Tin tức

BẢN TIN HOẠT ĐỘNG CÁC TỔ CHỨC PHI CHÍNH PHỦ TẠI VIỆT NAM Thứ Bảy, ngày 26 tháng 3 năm 2016

Đăng bởi: ngoicvn
29/03/2016

Chủ tịch nước Trương Tấn Sang thăm Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội

Chiều 25-3, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã đến thăm các cán bộ, giảng viên, sinh viên Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội (HUBT) trực thuộc Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.

Trò chuyện với tập thể cán bộ, giảng viên và sinh viên trường, Chủ tịch nước đã biểu dương những thành tựu mà trường đã đạt được trong 20 năm qua. Chủ tịch nước cho rằng, từ một cơ sở đào tạo với ba khoa ban đầu, Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội đã trở thành một cơ sở đào tạo bậc đại học, sau đại học đa lĩnh vực, đa ngành, có uy tín với hệ thống quy trình đào tạo hiện đại, quản lý khoa học, đào tạo được nhiều thế hệ sinh viên có thành tích học tập tốt; góp phần cung cấp nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.

Chủ tịch nước đề nghị, phát huy thành tích 20 năm xây dựng và trưởng thành, tập thể Ban Giám hiệu, thầy và trò cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn nữa chương trình, nội dung giảng dạy và học tập, phương pháp thi, kiểm tra, đánh giá kết quả; tích cực, chủ động sáng tạo xây dựng công nghệ quản lý, đào tạo ngày càng hiện đại; không ngừng nâng cao chất lượng dạy và học theo hướng toàn diện đức - trí - thể - mỹ; phấn đấu đưa Trường đại học Kinh doanh và Công nghệ Hà Nội trở thành cơ sở đào tạo có uy tín cao mang tầm quốc gia và trong khu vực Đông-Nam Á. Chủ tịch nước đề nghị, Bộ Giáo dục và Đào tạo cần sớm nghiên cứu, tổng kết mô hình của Trường cùng những mô hình đào tạo ngoài công lập thành công khác, rút ra những kinh nghiệm quý báu để đẩy nhanh và thực hiện có kết quả chủ trương xã hội hóa giáo dục và đào tạo của đất nước. (Nhân Dân 26/3/201)

Dự thảo của Thông tư tuyển chọn đề tài khoa học vẫn còn phương thức “xin – cho”

Ngày 24/3/2016 tại Hà Nội, Liên hiệp Hội Việt Nam (LHHVN) đã tổ chức hội thảo: “Góp ý Dự thảo Thông tư Quy định tuyển chọn, xét giao trực tiếp tổ chức và cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấm quốc gia sử dụng ngân sách nhà nước”. 

Nhìn chung, các đại biểu tham dự hội thảo đã đánh giá đây là bản quy định được soạn thảo công phu, chi tiết toát lên tinh thần làm sao để việc thông qua các đề tài khoa học cấp nhà nước có thể diễn ra một cách minh bạch và công bằng nhất trong điều kiện nền khoa học nước nhà hiện nay. Nội dung Dự thảo đã phản ánh rõ quan điểm “giao nhiệm vụ” từ Nhà nước (từ ngân sách nhà nước), thể hiện tinh thần “đấu thầu”, tôn trọng tính công khai, cạnh tranh, công bằng, phương thức thành lập và các bược tiến hành tuyển chọn của Hội đồng,..

Tuy nhiên, Dự thảo vẫn còn phương thức “xin – cho”. Các đề tài nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ trong Dự thảo chủ yếu là thực hiện nhiệm vụ do cấp trên giao, do cấp trên đặt hàng. Dự thảo không đề cập đến những đề tài nghiên cứu do cá nhân nhà khoa học tự tìm tòi, phát hiện. Ngân sách nhà nước cần cung cấp kinh phí, không đặt hàng, mà là hỗ trợ kinh phí vì sẽ mang lại lợi ích tiềm năng cho nhà nước. Đối với khoa học cơ bản và những nghiên cứu phát triển thì rất khó tuyển chọn để giao nhiệm vụ, mà nên sẵn sàng đáp ứng tài chính cho các ý tưởng, những mong muốn tìm tòi của các nhà khoa học. Có thể có Quy định khác quan tâm lĩnh vực này  như các Quỹ phát triển KH&CN.

Dự thảo chưa giảm thiểu được các thủ tục hành chính hết sức rắc rối, phiền hà, chưa khắc phục được nhận thức sai lầm về vị trí, vai trò của các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến đến nhiệm vụ KH&CN cấp quốc gia. Cụ thể là gây nhầm lẫn về việc coi Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân tỉnh cũng là Bộ chủ trì đến nhiệm vụ KH&CN cấp quốc quốc gia.

Ngoài ra, với các điều khoản ghi trong thông tư, trên thực tế người Bộ trưởng sẽ là người quyết định danh sách hội đồng thẩm định cũng như kết quả của cuộc thẩm định tuyển chọn đề tài khoa học. Điều này rất dễ sảy ra nguy cơ có các đề tài không phù hợp được thực hiện bởi những người không phù hợp, kết quả không phục vụ cho việc phát triển...tính khách quan, công bằng và minh bạch sẽ bị giảm sút... (VUSTA 25/3/2016)

Đẩy mạnh phát triển năng lượng tái tạo

Ngày 24/3, tại Hà Nội đã diễn ra hội thảo “Phát triển năng lượng - Biến đổi khí hậu - Tăng trưởng Xanh: Nỗ lực và khoảng trống tại Việt Nam” do Trung tâm Phát triển Sáng kiến Cộng đồng và Môi trường (C&E) tổ chức. 

Theo ông Nguyễn Anh Tuấn - Phó Viện trưởng Viện Năng lượng (Bộ Công thương), mặc dù Việt Nam đã ban hành Chiến lược phát triển năng lượng tái tạo (NLTT) đến 2030, tầm nhìn đến 2050 và được nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước rất quan tâm, tìm cơ hội đầu tư nguồn điện NLTT. Tuy nhiên, phát triển NLTT còn gặp 1 số thách thức về cơ chế và thể chế. Theo đó, biểu giá điện chưa thực sự hấp dẫn nhà đầu tư, chưa có quy hoạch phát triển NLTT. 

Hiện tỷ trọng nhiệt điện than vẫn đang giữ ở mức đáng kể trong cơ cấu sản xuất điện. Theo ước tính của Bộ TN&MT, phát thải khí nhà kính của việc đốt nhiên liệu trong ngành sản xuất năng lượng (nhiệt điện) của Việt Nam chiếm tới 31,1% tổng phát thải khí nhà kính năm 2020 và lên đến 51% tổng phát thải khí nhà kính năm 2030. 

Vì vậy, một trong những phương án để giảm phát thải khí nhà kính là đẩy mạnh phát triển nguồn năng lượng mới, năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng mặt trời và năng lượng gió; giảm bớt nhiệt điện than. 

Để thúc đẩy và đạt được mục tiêu này, Nhà nước cần xây dựng Quy hoạch tổng thể về năng lượng tái tạo, áp dụng tối đa các giải pháp công nghệ tiên tiến, hiệu quả, giảm nhẹ tác động tới môi trường – xã hội. Bên cạnh đó cần đưa ra các cơ chế chính sách thích hợp, đủ mạnh nhằm thu hút nguồn lực đầu tư. (Đại Đoàn Kết 25/3/2016)

Không được vay vốn ODA, có khi lại tốt cho Việt Nam

“Vốn vay ODA (viện trợ phát triển) không phải là bữa trưa miễn phí. Trong vài năm tới, nếu ODA kết thúc thì đó là điều tốt”. TS Võ Đại Lược, Tổng Giám đốc Trung tâm Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương,  nêu quan điểm xung quanh câu chuyện tới đây Việt Nam có thể không còn được vay vốn ODA ưu đãi nữa.

Theo ông, ODA có nhiều mặt trái. Chúng ta phải nhớ một nguyên tắc, không ai cho không ai cái gì. ODA cũng vậy. Những nước viện trợ ODA chắc chắn phải được lợi về mặt chính trị hoặc kinh tế.

Một quốc gia, đứng về mặt lợi ích cũng giống như một công ty, phải tìm kiếm lợi nhuận. Quốc gia cấp ODA cho một nước khác thường sẽ kèm theo điều kiện để các công ty của nước họ thực hiện các công trình sử dụng nguồn vốn đó. Chẳng hạn ở dự án Lạch Huyện, Hải Phòng mọi thứ từ thiết kế, giám sát, xây dựng… đều do công ty nước ngoài đảm nhận.

Rồi, lương chuyên gia nước ngoài ở dự án ODA có khi lên tới 500 triệu đồng/tháng. Hay giá xây dựng một số con đường cao tốc ở Việt Nam, như báo chí đã từng nêu, lên tới 12 triệu USD/km trong khi ở Mỹ chỉ vào khoảng 5 triệu USD. Đó là chưa kể một số quan chức, công ty của Việt Nam tham gia vào ODA cũng có chuyện kiếm chác.

Nếu vay thương mại, chắc chắn lãi suất cao. Còn nếu phát hành trái phiếu trong nước hay quốc tế thì lãi suất cũng khá cao. Song điều đó có thể còn lợi hơn khi vay ODA. Bởi lẽ lãi suất ODA thời gian qua thấp và thời gian vay dài thật nhưng nếu cộng các chi phí tiêu cực, thất thoát, rồi các điều kiện nước cho vay áp đặt… thì có lẽ lãi suất còn cao hơn vay thương mại rất nhiều. Ấy là chưa kể đến sự biến động của tỉ giá.

Vì thế ông cho rằng trong vòng vài năm tới, nếu ODA cho Việt Nam kết thúc thì đó có khi là điều tốt cho Việt Nam!

Ông cho biết, hiện nay chúng ta đang dàn trải vốn ODA quá nhiều nơi. Người ta tranh thủ vốn ODA nhiều quá. Đáng lẽ Việt Nam ít tiền, có nguồn vốn ODA thì phải tập trung phát triển ở những nơi có thể sinh lời nhiều nhất. Tôi đã từng kiến nghị phải tập trung phát triển hai vùng trọng điểm là khu vực Hà Nội và TP.HCM trước, để sinh lời nhiều nhất; nhưng chúng ta lại dùng vốn ODA để phát triển dàn trải từ Lạng Sơn đến Cà Mau. (Pháp luật TPHCM 25/3/2016)

Phải linh hoạt ứng phó!

Theo GS.TSKH. Nguyễn Đức Ngữ, Giám đốc Trung tâm KHCN Khí tượng thủy văn và Môi trường, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Khí tượng Thủy văn Việt Nam, từ giữa tháng 4-2014, Tổ chức Khí tượng thế giới đã thông báo khả năng hình thành El Niño ở vùng biển trung tâm xích đạo Thái Bình Dương vào tháng 7 và dự báo sẽ kéo dài đến hết năm 2014. Tình hình diễn ra đúng như vậy, từ tháng 8-2014, El Niño liên tục phát triển và đạt cực đại vào tháng 12-2014, khi nhiệt độ bề mặt nước biển ở đây vượt mức trung bình nhiều năm 0,9 độ C.

Theo ông, ứng phó với biến đổi khí hậu, thiên tai, thời tiết cực đoan cần phải chủ động. Lẽ ra ngay từ đầu năm 2015 chúng ta cần đặt ra hai câu hỏi: (1) có giải pháp nào để bù 40% lượng nước thiếu hụt? Ví dụ, ở Tây Nguyên, lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.000 mi li mét, trừ vùng thung lũng Ayunpa chỉ 1.200 mi li mét, nếu hụt 40% tức là 800 mi li mét. Nếu có giải pháp bù được 800 mi li mét lượng mưa thiếu hụt thì không lo về hạn.

Nếu không trả lời được câu hỏi thứ nhất thì phải trả lời câu hỏi thứ hai (2) nếu chúng ta chấp nhận chỉ còn 60% lượng nước mưa hàng năm, tức là khoảng 1.200 mi li mét, riêng vùng thung lũng sông Ba còn 700-800 mi li mét, thì làm thế nào để sản xuất nông nghiệp không bị thiệt hại và đời sống người dân không bị ảnh hưởng?

Rõ ràng, câu trả lời là phải chuyển đổi cơ cấu sản xuất nông nghiệp, cụ thể là phải giảm bớt diện tích lúa nước, chuyển sang các cây trồng chịu được hạn. Lượng nước có được để dành tưới cho cây trồng cạn, cây ăn quả và cây công nghiệp. Nếu làm được như vậy thì sẽ giảm được thiệt hại, không đến mức hàng trăm ngàn héc ta lúa nước bị chết khô như hiện nay.

Ông cho biết, các kết quả nghiên cứu cho thấy, hạn hán do ảnh hưởng của El Niño ở nước ta nặng nhất không phải là lúc El Niño phát triển mà là khi nó bước sang thời kỳ suy thoái. Lúc đó lượng nước trong sông, hồ và cả nước dưới đất cũng cạn kiệt vì đã trải qua một thời kỳ dài không mưa hoặc ít mưa, lượng nước bốc hơi rất lớn.

Do đó, từ nay tới tháng 4 hoặc tháng 5, hạn hán vẫn tiếp tục và còn gay gắt, nhất là ở các tỉnh phía Nam.
El Niño và La Niña có chu kỳ từ 3-5 năm và thường luân phiên nhau, nhưng cũng có khi xảy ra hai đợt El Niño hoặc hai đợt La Niña kế tiếp nhau. Hiện nay các cơ quan dự báo đã theo dõi, giám sát liên tục sự phát triển của chúng và có thể dự báo chính xác đến 90%. Do đó, việc phòng chống phải hết sức kịp thời, chủ động và linh hoạt khi có thông tin cảnh báo, đồng thời phải hiểu rõ những ảnh hưởng của chúng đối với từng ngành, từng vùng để đưa ra giải pháp đúng đắn. Ví dụ, El Niño vừa qua gây ra hạn hán nhưng sang năm nếu xuất hiện La Niña, có thể sẽ có nhiều bão hơn và mưa lớn, lại phải có giải pháp phòng chống bão và lũ lụt ở một số vùng.

Như vậy, ứng phó với hai hiện tượng này là ứng phó ngắn hạn, bất thường và phải dựa vào các thông tin cảnh báo, theo dõi chặt chẽ, thường xuyên, hoàn toàn khác với việc ứng phó với xu thế nhiệt độ tăng, nước biển dâng do biến đổi khí hậu. (TBKTSG Online 25/3/2016)

 

 

 


NGO-IC

NGO-IC là tổ chức Phi Chính phủ, phi lợi nhuận, phi chính trị có sứ mệnh kết nối các tổ chức xã hội (CSO) với các cơ quan Chính phủ ở Trung ương và địa phương;

lacoste boty