Tin tức

Đánh giá các tổ chức nghiên cứu ở Việt Nam

Đăng bởi: ngoicvn
25/07/2014

Đánh giá tổ chức nghiên cứu là việc phân tích một cách hệ thống hiệu quả hoạt động, điểm mạnh, yếu và lợi ích các tổ chức nghiên cứu mang lại cho khoa học và kinh tế - xã hội.


Đây là công tác rất cần thiết để các tổ chức nghiên cứu tự cải thiện mình, đồng thời giúp các nhà quản lý nhận biết tình trạng hoạt động của các tổ chức nghiên cứu, xác định được đâu là những tổ chức hoạt động hiệu quả hoặc không hiệu quả. Tuy nhiên hiện nay Việt Nam còn rất hạn chế cả về kinh nghiệm và năng lực trong công tác này.

Mỗi quốc gia đều có phương pháp riêng trong việc tổ chức đánh giá các tổ chức nghiên cứu của họ. Một vài quốc gia ưu tiên đánh giá trên quy mô rộng, một số khác lại không muốn đầu tư nhiều thời gian và nguồn lực vào công việc này.

Nhìn chung, những phương pháp tốn ít công sức không cung cấp được nhiều thông tin có độ tin cậy cao về điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu cải thiện và những tiềm năng của tổ chức nghiên cứu. Những phương pháp đòi hỏi nhiều công sức, nguồn lực và thời gian đánh giá thường đem lại thông tin đáng tin cậy hơn và đầy đủ hơn về điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu cải tiến và tiềm năng của tổ chức.

Chọn phương pháp đánh giá tổ chức nghiên cứu

Phương pháp bình duyệt (peer review). N
hững chuyên gia am hiểu về lĩnh vực nghiên cứu của một tổ chức nghiên cứu sẽ đến thăm tổ chức từ 1 đến 3 ngày. Trước đó tổ chức phải chuẩn bị mọi dữ liệu cần thiết. Hai bên sẽ thảo luận về chiến lược KH&CN, cách thức hoạt động, quản lí, kết quả hoạt động, v.v, của tổ chức. Thông tin và kết luận từ buổi làm việc là cơ sở để nhóm bình duyệt chuẩn bị một bản báo cáo đánh giá bao gồm các nội dung thu thập được và những ý kiến đánh giá.

Lợi thế của phương pháp này là tốn ít thời gian và cơ quan đánh giá tận dụng được kiến thức của chuyên gia. Tuy nhiên, chuyên gia phải có kinh nghiệm và am hiểu lĩnh vực được đánh giá. Do phương pháp này thường không áp dụng đánh giá định lượng nên không thể xếp hạng các tổ chức theo thứ tự.

Có 2 cách tổ chức bình duyệt. Cách thứ nhất là mỗi lần tổ chức bình duyệt thì mời các chuyên gia khác nhau tham gia thực hiện. Tuy nhiên, những tổ chức như Hiệp hội Max-Planck lại có xu hướng thành lập các ủy ban tư vấn đánh giá là những chuyên gia cố định, thường xuyên tham gia các buổi đánh giá định kỳ. Lợi ích của việc mời chuyên gia cố định là các thành viên sẽ hiểu rõ hơn về các viện và có điều kiện xem xét khuyến nghị từ những lần đánh giá trước đó đã được thực hiện hiệu quả thế nào.

Ở Đức, không có quy định nào của nhà nước về đánh giá viện nghiên cứu. Mỗi tổ chức nghiên cứu lựa chọn phương pháp đánh giá riêng cho mình.
Một ví dụ điển hình là, tổ chức nghiên cứu cơ bản hàng đầu ở Đức, MaxPlanck-Society, với hơn 80 viện và ngân sách năm 2011 hơn 1,7 tỉ Euro. Để đánh giá liên tục hiệu quả hoạt động khoa học của các viện thuộc tổ chức này, mỗi năm có 35 - 40 cuộc bình duyệt được triển khai. Những cuộc bình duyệt này được thực hiện bởi hội đồng khoa học gồm các chuyên gia được mời từ bên ngoài, được thiết lập cho mỗi viện. Các hội đồng khoa học đến thăm và đánh giá hoạt động của các viện. Để chuẩn bị cho những buổi đánh giá tại chỗ, viện phải chuẩn bị bản báo cáo tình hình cụ thể, miêu tả các chiến lược và kết quả hoạt động khoa học, cơ sở hạ tầng, tình hình nguồn nhân lực của viện, cung cấp tài liệu chi tiết

Phương pháp đánh giá audit (evaluation audit). Sử dụng đội ngũ chuyên gia đánh giá chuyên nghiệp thực hiện đánh giá. Loại đánh giá này sử dụng phương pháp luận đánh giá tiêu chuẩn cao, cùng với các bảng câu hỏi, bộ dữ liệu, báo cáo phân tích và các mẫu biểu để thuyết trình về kết quả đánh giá. Phương pháp này không đòi hỏi nhiều công sức nhưng cho kết quả có độ tin cậy; cho phép đo lường, so sánh hiệu quả làm việc giữa các viện khác nhau.

Phương pháp tự đánh giá (self-assessment). Các tổ chức được cung cấp một mẫu hướng dẫn tự đánh giá và hoàn thiện mẫu này; đồng thời cung cấp thông tin cần thiết chứng minh cho những đánh giá mà tổ chức đưa ra. Phương pháp này cũng không đòi hỏi nhiều công sức của cơ quan đánh giá; nhưng kết quả thu được chỉ thực sự hữu ích khi tổ chức cung cấp thông tin đáng tin cậy và thực hiện tự đánh giá nghiêm túc.

Hai tiêu chuẩn – chín yếu tố


Cách thức quản lý các tổ chức nghiên cứu và cấu trúc KH&CN của Việt Nam khác các nước phương Tây. Thế nên, để phù hợp hoàn cảnh Việt Nam, những phương pháp này cần phải được điều chỉnh; ví dụ: rất nhiều dữ liệu được sử dụng để đánh giá ở các nước phát triển không phù hợp khi áp dụng ở Việt Nam. Các cán bộ nghiên cứu, cán bộ quản lý ở các tổ chức nghiên cứu, chuyên gia đánh giá và các bên liên quan khác cần thời gian làm quen phương pháp đánh giá và học cách áp dụng công cụ này một cách hiệu quả.

Viện Đánh giá khoa học và Định giá công nghệ  đã phân tích các phương pháp luận được sử dụng ở các nước khác và phối hợp với chuyên gia Đức xây dựng  phương pháp đánh giá và thực hiện đánh giá thí điểm bốn tổ chức nghiên cứu đầu tiên trong năm 2013.

Kết quả thực tiễn cho thấy, Việt Nam không thể lặp lại phương pháp luận đánh giá nào của nước khác, mà cần phải có phương pháp luận riêng. Phương pháp luận đó phải đáp ứng được những điều kiện: 1) Có tính thực tế, đơn giản, dễ thực hiện; 2) Phù hợp hoàn cảnh kinh tế - xã hội, khung hành chính và chính trị của Việt Nam.

Do vậy, Viện đã xây dựng phương pháp luận dựa trên ý tưởng một tổ chức nghiên cứu hoạt động hiệu quả phải đạt chín yếu tố thành công. Nếu một tổ chức hoàn thành tốt tất cả các yếu tố đó, tổ chức có kết quả hoạt động tốt, tạo ra những kết quả có giá trị, có chiến lược và nguồn lực mạnh. Mức độ đạt được của chín yếu tố thành công này được đo lường theo các tiêu chí cụ thể.

Kết quả của tất cả các tiêu chí được tổng hợp và đưa ra một thang đo hiệu quả  hoạt động tổng thể của tổ chức. Phương pháp này cho phép nhận định những điểm mạnh, yếu, yêu cầu cải tiến; đồng thời cho phép đo lường định lượng hiệu quả hoạt động và so sánh với các tổ chức khác. Chín yếu tố cụ thể đó là:

Chiến lược phát triển

Mục tiêu là đánh giá liệu tổ chức có làm đúng các nhiệm vụ nghiên cứu không, có tổ chức thực hiện một cách hệ thống để phát huy hết năng lực và sử dụng nguồn lực hiệu quả không? Tổ chức được đánh giá phải trình bày tài liệu, văn bản giải thích chiến lược nghiên cứu và kế hoạch phát triển năng lực, tiềm lực của tổ chức. Các chuyên gia sẽ xem xét chiến lược này để thẩm định tính hợp lý và khả thi.

Hiệu quả hoạt động và đầu ra nghiên cứu khoa học

Mục tiêu là đánh giá xem tổ chức có tạo ra kết quả nghiên cứu khoa học có giá trị không. Tiêu chuẩn quốc tế  đo lường các kết quả này là các ấn phẩm khoa học và sự công nhận từ các nhà nghiên cứu khác (ví dụ: bằng sự trích dẫn).

Hiệu quả hoạt động và đầu ra công nghệ
Mục đích là đánh giá xem tổ chức có tạo ra  những công nghệ có giá trị và hữu ích đối với kinh tế và xã hội không, hay có chuyển giao những công nghệ đó một cách hiệu quả và thương mại hóa chúng thành công không. Với những quốc gia có hệ thống KHCN phát triển, thường thì số bằng sáng chế của tổ chức được sử dụng để đánh giá đầu ra công nghệ. Nhưng cách đánh giá này không thể sử dụng ở Việt Nam, vì số bằng sáng chế được đăng ký ở Việt Nam còn rất ít, và các nhà nghiên cứu thường không đăng ký bằng sáng chế cho sáng chế của mình. Vì thế cần xem xét thêm dữ liệu khác, như nguồn thu mà tổ chức đạt được hằng năm từ việc bán hay cấp phép công nghệ của tổ chức đó (bởi chỉ khi nào tổ chức tạo ra nhiều công nghệ và có giá trị cao mới có thể tìm được khách hàng sẵn sàng chi trả).

Dịch vụ KH&CN
Mục đích là để đánh giá liệu tổ chức có cung cấp các dịch vụ có giá trị dựa trên năng lực chuyên môn của mình, ví dụ như kiểm tra và đo lường các dịch vụ kỹ thuật, đề xuất các giải pháp hoặc ý kiến tư vấn (một loại dịch vụ KH&CN điển hình là tư vấn cho các cơ quan chính phủ trong việc xây dựng và thực hiện chính sách)... Cách đánh giá đơn giản các dịch vụ KH&CN của tổ chức, ví dụ là số lượng và loại hình dịch vụ đã cung cấp (tư vấn cho các nhà hoạch định chính sách, tư vấn cho các doanh nghiệp…) và/hoặc thu nhập hằng năm từ các dịch vụ như vậy.

Đào tạo, giảng dạy
Mục đích là đánh giá xem tổ chức có thực hiện công tác đào tạo (thường là đào tạo sau đại học) cho sinh viên và/hoặc tổ chức các khóa đào tạo cho các bên liên quan khác (ví dụ như cho lãnh đạo doanh nghiệp hay chính phủ). Cách đánh giá là xem xét số lượng học viên là nghiên cứu sinh thạc sĩ và tiến sĩ đang được đào tạo, số lượng tốt nghiệp hằng năm, số lượng khóa đào tạo và/hoặc các cán bộ đã qua đào tạo.

Nguồn nhân lực
Mục đích là đánh giá xem đội ngũ cán bộ khoa học của tổ chức có đủ năng lực, kiến thức khoa học và trình độ cần thiết để tiến hành các nghiên cứu hiện đại hay không. Một phương pháp đánh giá điển hình trình độ cán bộ là bằng cấp được chứng nhận (như phần trăm tiến sĩ , thạc sĩ, cán bộ tốt nghiệp từ các trường đại học nổi tiếng ở nước ngoài…). Phương pháp đánh giá cơ cấu nguồn nhân lực là xem xét tỉ lệ giáo sư,  phó giáo sư, tiến sĩ, thạc sĩ, cán bộ nghiên cứu, trên tổng số cán bộ và độ tuổi của họ…

Trang thiết bị khoa học và cơ sở hạ tầng
Mục tiêu là đánh giá xem tổ chức có những trang thiết bị khoa học hiện đại cần thiết để thực hiện các nghiên cứu tiên tiến nhất và liệu cơ sở hạ tầng khoa học của tổ chức (như phòng thí nghiệm, thông tin, tài liệu khoa học…) và cơ sở vật chất (trụ sở, thiết bị…) có đủ không. Điều này có thể được đánh giá tốt nhất bởi những nhà khoa học cùng ngành. Các chỉ số hữu ích để đánh giá bao gồm tuổi thọ trung bình của thiết bị, khấu hao hằng năm, kinh phí duy trì bảo dưỡng hoặc hiện đại hóa trang thiết bị.

Tài chính
Mục đích là đánh giá xem nguồn kinh phí của tổ chức có đủ thực hiện các nhiệm vụ và cơ cấu kinh phí có phù hợp không (tổ chức có được đảm bảo kinh phí chi thường xuyên, có tạo được nguồn thu từ các đề tài, dự án, từ việc chuyển giao công nghệ và cung cấp dịch vụ không?…) 

Ai thực hiện đánh giá?
Một số quốc gia thành lập các tổ chức đánh giá nghiên cứu chuyên nghiệp, ví dụ như Trung tâm đánh giá KH&CN Trung Quốc - NCSTE hay Cục Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp - AERES. Một số tổ chức nghiên cứu cũng đã thành lập các đơn vị của riêng mình chuyên trách việc đánh giá, ví dụ đơn vị đánh giá thuộc Viện Nghiên cứu khoa học công nghiệp và công nghệ cao quốc gia Nhật Bản (AIST). Tuy nhiên, các đơn vị chuyên trách này cũng thường xuyên mời chuyên gia bên ngoài tham gia đánh giá để đảm bảo công bằng, khách quan. 

Hợp tác và quốc tế hóa
Mục đích là đánh giá xem tổ chức có hợp tác đầy đủ với các nhà nghiên cứu khác ở Việt Nam và nước ngoài, có tham gia thực hiện các dự án nghiên cứu cũng như trao đổi với các nhà nghiên cứu quốc tế để hoàn thiện nghiên cứu không. Cũng cần xem xét liệu tổ chức có hợp tác hiệu quả với những người sử dụng kết quả nghiên cứu (ví dụ với các doanh nghiệp) để đảm bảo kết quả nghiên cứu là hữu ích và chúng được chuyển giao thành công hay không. Các phương pháp điển hình để đánh giá mức độ hợp tác của tổ chức bao gồm số lượng và mức độ của sự hợp tác với các nhà nghiên cứu khác (đánh giá theo mức độ hợp tác: các thỏa thuận chính thức và các dự án hợp tác có tầm quan trọng cao hơn những cuộc thăm viếng ngắn hạn), số lượng và quy mô của các thỏa thuận hợp tác chính thức với các doanh nghiệp… Phương pháp điển hình đánh giá mức độ quốc tế hóa của tổ chức là số lượng và thời gian làm việc của cán bộ thuộc tổ chức tại các viện nghiên cứu ở nước ngoài hoặc của các nhà nghiên cứu nước ngoài làm việc tại tổ chức, nguồn thu đạt được từ các dự án quốc tế hằng năm, thành viên các hiệp hội và mạng lưới nghiên cứu quốc tế…

Về cơ bản, chín yếu tố kể trên có thể được sử dụng để đánh giá mọi loại hình tổ chức nghiên cứu. Tuy nhiên, khi áp dụng cần phải điều chỉnh phù hợp từng loại tổ chức, dựa trên bản chất hoạt động và lĩnh vực nghiên cứu của họ. Ví dụ, nếu đánh giá tổ chức nghiên cứu cơ bản, kết quả nghiên cứu khoa học là đầu ra quan trọng nhất, nhưng đối với tổ chức nghiên cứu ứng dụng thì cần chú trọng hoạt động chuyển giao công nghệ mới và nguồn thu từ việc thương mại hóa chúng.

Quy trình triển khai


Để đánh giá chín yếu tố kể trên, chúng ta sẽ sử dụng nhiều tiêu chí, gồm cả định tính và định lượng.

Đánh giá định lượng được sử dụng để đo lường việc đáp ứng các tiêu chí bằng cách tính điểm. Các tổ chức nghiên cứu được đánh giá theo thang điểm từ 1 (là khi kết quả hoạt động kém, không thể hoàn thành chức năng, nhiệm vụ) tới 5 (là khi kết quả hoạt động xuất sắc, có thể so sánh với đẳng cấp cao của thế giới)

Tổng điểm của tổ chức được tính bằng cách cộng trung bình điểm đạt được của chín yếu tố được đánh giá. Để tính toán theo tầm quan trọng khác nhau, điểm số từng yếu tố được tính theo trọng số. Trọng số này khác nhau đối với từng loại viện; ví dụ: với tổ chức nghiên cứu cơ bản, đầu ra khoa học (ấn phẩm khoa học) có trọng số cao nhất, nhưng với tổ chức nghiên cứu ứng dụng, đầu ra công nghệ (sáng chế) có trọng số cao nhất.

                                                                                  

Đánh giá định tính được thực hiện khi chuyên gia đánh giá đưa ra những bình luận để giải thích điểm mạnh, yếu và yêu cầu cải thiện cho từng lĩnh vực đánh giá. Những giải thích định tính này rất quan trọng với ban lãnh đạo tổ chức bị đánh giá, giúp họ hiểu được cách nâng cao kết quả hoạt động của đơn vị mình.

Nhóm đánh giá từ bên ngoài sẽ trình bày kết quả đánh giá với ban lãnh đạo của tổ chức nghiên cứu bị đánh giá. Cả hai bên thảo luận kết quả và đi đến thống nhất trước khi nhóm đánh giá bên ngoài xây dựng báo cáo cuối cùng. Để kết quả đánh giá cuối cùng có hiệu lực, dự thảo báo cáo cuối cùng phải được thảo luận với tổ chức nghiên cứu bị đánh giá. Tổ chức có thể đưa ra phản hồi và trình bày quan điểm của mình và nếu không đồng ý với ý kiến chuyên gia đánh giá thì những điểm khác biệt sẽ được thảo luận tới khi cả hai bên đi đến thống nhất.

Ví dụ về một tổ chức đánh giá nghiên cứu chuyên nghiệp: Cục Đánh giá nghiên cứu và giáo dục đại học Pháp - AERES
AERES được thành lập căn cứ theo điều luật về các chương trình nghiên cứu ở Pháp  năm 2006 và  vào hoạt động từ tháng 3/2007. Luật này cho phép AERES thực hiện các nhiệm vụ: Đánh giá các tổ chức và viện nghiên cứu, viện đào tạo đại học, các quỹ và tổ chức hợp tác khoa học, các viện và cục nghiên cứu quốc gia Pháp; Đánh giá các hoạt động nghiên cứu được thực hiện bởi những đơn vị nghiên cứu kể trên. AERES trực tiếp thực hiện hoặc thực hiện đánh giá với sự hỗ trợ của những tổ chức nghiên cứu sử dụng những quy trình được AERES chấp nhận; Đánh giá chương trình giảng dạy của các viện đào tạo đại học;
Phê duyệt các quy trình đánh giá cán bộ của các viện và tổ chức nghiên cứu, đưa ý kiến về tình hình thực hiện những quy trình đó.
Năm 2012, kinh phí hoạt động của AERES 12 triệu EURO, với 71 cán bộ biên chế, 125 cán bộ khoa học kiêm nhiệm (cán bộ nghiên cứu, giáo sư) và 1738 chuyên gia bên ngoài làm việc theo các dự án đánh giá. Năm 2011 - 2012, AERES đã đánh giá 5 viện nghiên cứu lớn, 222 đơn vị nghiên cứu và hơn 800 chương trình giáo dục đại học.

Báo cáo đánh giá cuối cùng sẽ được hoàn thiện và đệ trình các cơ quan liên quan. Trong đó cung cấp những thông tin chi tiết về kết quả hoạt động của tổ chức và mức độ hoàn thành nhiệm vụ được giao; điểm mạnh và yếu của tổ chức; cơ hội nâng cao kết quả hoạt động khoa học và hoàn thành nhiệm vụ được giao. Trên cơ sở báo cáo này, các bộ và cơ quan quản lý biết về kết quả hoạt động và tiềm năng của tổ chức nghiên cứu; đồng thời bản thân tổ chức nghiên cứu cũng nhận ra những cải cách cần thiết, giúp tổ chức mình mạnh hơn, có khả năng cạnh tranh cao hơn.

Để đảm bảo công tác đánh giá tổ chức nghiên cứu được thực hiện hiệu quả và có chất lượng, việc đánh giá phải được lập kế hoạch và thực hiện bởi các chuyên gia giàu kinh nghiệm. Do vậy chúng ta cần phải xây dựng và phát triển năng lực và trình độ đánh giá, hình thành cơ sở pháp lý, xây dựng hướng dẫn, mẫu biểu đánh giá.

Đồng thời các tổ chức nghiên cứu cần nhận thức đúng về lợi ích của việc đánh giá để có sự hợp tác, phối hợp, trao đổi tối đa với các chuyên gia đánh giá, bởi công tác đánh giá chỉ thực hiện được nếu mọi bên tham gia đều hợp tác, cung cấp thông tin, dữ liệu cần thiết, và cùng biết cách sử dụng kết quả đánh giá.

Trong bối cảnh chúng ta không có đủ chuyên gia có khả năng áp dụng các phương pháp phức tạp và tinh vi, các tổ chức KH&CN và những đối tác khác cũng chưa quen tham gia các việc đánh giá, chúng ta nên bắt đầu đánh giá theo những cách thức thiết thực, đơn giản, dễ thực hiện trong khả năng hiện có. Các phương pháp tinh vi hơn có thể được thực hiện sau này, khi đã có nhiều kinh nghiệm.

 

Đánh giá các viện nghiên cứu chính phủ ở Hàn Quốc
Văn phòng thủ tướng chính phủ bắt đầu thực hiện đánh giá viện nghiên cứu Chính phủ (GRIs) lần đầu tiên năm 1991. Dựa trên kết quả đánh giá này, một vài viện nghiên cứu chính phủ đã phải giải thể, tái cơ cấu hoặc hợp nhất. Từ năm 1999 đến 2005, 4 hội đồng nghiên cứu được thành lập; mỗi hội đồng thực hiện đánh giá viện nghiên cứu chính phủ trong lĩnh vực nghiên cứu của họ.
Từ năm 2006, Hàn Quốc giới thiệu một hệ thống đánh giá viện nghiên cứu chính phủ dựa trên hiệu quả hoạt động; theo đó việc hoàn thành các nhiệm vụ, mục tiêu, công tác quản lý của mỗi viện nghiên cứu chính phủ đều được đánh giá. Việc cấp kinh phí hoạt động cho các viện có thể tăng hoặc giảm dựa trên kết quả những đánh giá này.

Đọc thêm:

* Đánh giá các tổ chức KH&CN: Chuyển từ quản lý đầu vào sang quản lý đầu ra
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News=7700

* Cải thiện hiệu quả các viện nghiên cứu bắt đầu từ việc làm rõ tiêu chí đánh giá
http://www.tiasang.com.vn/Default.aspx?tabid=110&CategoryID=36&News

Theo Nguyễn Thị Thu Oanh - Michael Braun (Tạp chí Tia sáng)


NGO-IC

NGO-IC là tổ chức Phi Chính phủ, phi lợi nhuận, phi chính trị có sứ mệnh kết nối các tổ chức xã hội (CSO) với các cơ quan Chính phủ ở Trung ương và địa phương;

lacoste boty