Tin tức

Dự án Quỹ Toàn cầu Phòng chống HIV/AIDS

Đăng bởi: ngoicvn
08/01/2014

Dự án Quỹ Toàn cầu Phòng chống HIV/AIDS

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam

Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam (Liên hiệp Hội Việt Nam, VUSTA) được thành lập theo Quyết định số 121/HĐBT ngày 29/7/1983 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) nước Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.


 VUSTA là tổ chức Chính trị - Xã hội của tri thức Khoa học và Công nghệ Việt Nam, có sứ mệnh tập hợp, đoàn kết và phát huy tiềm năng của đội ngũ trí thức KH&CN phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước; làm đầu mối giữa các hội KH&KT với các cơ quan quản lý nhà nước; đại diện và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các hội thành viên và trí thức khoa học và công nghệ tổ chức. VUSTA có mạng lưới rộng khắp cả nước với 73 Hội KH&KT ngành toàn quốc, 59 Liên hiệp các hội KH&KT tỉnh và thành phố và khoảng 300 tổ chức KH&CN.

VUSTA và các tổ chức thành viên tham gia vào các hoạt động: (1) nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; (2) tư vấn, phản biện và giám định xã hội; (3) tuyên truyền và phổ biến kiến thức khoa học và công nghệ, chủ trương chính sách pháp luật cho cộng đồng; (4) mở rộng và phát triển hợp tác quốc tế, (5) tham gia xã hội hoá các hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, phát triển cộng đồng và xoá đói giảm nghèo, kể cả phòng chống HIV/AIDS.

Rất nhiều tổ chức NGO hoạt động hiệu quả trong lĩnh vực phòng chống HIV/AIDS ở Việt Nam đều là các tổ chức trực thuộc VUSTA như ISDS, COHED, VICOMC, LIFE, LIGHT v.v... đồng thời cũng là các tổ chức nhận tài trợ của Pact.  Các tổ chức NGO này hoạt động rất mạnh ở cấp cơ sở với vai trò thực hiện các dự án nghiên cứu hoặc can thiệp liên quan đến HIV. Tuy nhiên, sự tham gia của CSO nói chung trong lĩnh vực HIV/AIDS, đặc biệt là trong quá trình vận động chính sách về HIV vẫn còn hạn chế.  Hầu hết các tổ chức này chưa thực hiện được các hoạt động vận động chính sách tới các cơ quan Chính phủ.

Viện Nghiên cứu Phát triển Xã hội – ISDS

ISDS được biết đến như là một chức hàng đầu trong việc chuyển giao kiến thức đạt được trong nghiên cứu xã hội vào phát triển, và tiên phong trong các lĩnh vực đầy thử thách. Được thành lập năm 2002 bởi một nhóm các nhà nghiên cứu người tham gia vào việc lần đầu tiên đánh giá bên ngoài Chương trình quốc gia phòng chống AIDS năm 2001, từ đó ISDS tham gia trong cuộc chiến chống HIV thông qua nghiên cứu, tuyên truyền vận động và can thiệp. ISDS là một trong những tổ chức dẫn đầu trong công cuộc giảm kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan tới HIV ở Việt Nam - bằng cách chuyển giao dẫn chứng từ nghiên cứu của chính mình để  tổ chức các cuộc vận động chính sách thông qua hệ thống truyền thông đại chúng, và xây dựng các công cụ can thiệp cho NCH và các nhóm nguy cơ cao (IDU, MSM và SW), và chuyển tải những kỹ năng và kiến thức về giảm kỳ thị với những nhóm này thông qua các cuộc tập huấn chuyển giao kiến thức và hội thảo nâng cao nhận thức.

ISDS còn là một trong những tổ chức phi chính phủ địa phương đầu tiên tích cực trong tuyên truyền vận động giảm tác hại, trong đó sự tham gia của các cơ quan quản lý nhà nước cùng các tổ chức quốc tế đã dẫn đến việc hợp pháp hoá việc giảm các tác hại tại Việt Nam.

Dựa trên kinh nghiệm của ISDS trong việc quản lý bản tin điện tử JVnet, và học hỏi kinh nghiệm của các tổ chức xã hội khác(như tổ chức SCDI)  trong việc xuất bản đặc san và điều hành website về NCH do NCH xây dựng, ISDS sẽ hỗ trợ tổ chức các diễn đàn về HIV cho các cơ quan, tổ chức tham gia hoạt động phòng chống AIDS ở các huyện dự án, và hỗ trợ Trung tâm Phòng chống AIDS cấp tỉnh trong công tác truyền thông cũng như tăng cường việc liên kết mạng lưới giữa các tổ chức xã hội tham gia dự án và với các tổ chức chính phủ trong địa bàn 5 tỉnh dự án.

Trung tâm nghiên cứu sức khỏe cộng đồng và phát triển (COHED)

COHED đã được công nhận là một trong những tổ chức phi chính phủ hàng đầu Việt Nam trong lĩnh vực HIV/AIDS và sức khỏe sinh sản với 9 năm kinh nghiệm. Hiện nay, COHED đang thực hiện 10 dự án/chương trình phòng, chống HIV/AIDS và chăm sóc tại 9 tỉnh/thành phố trên toàn quốc, cho phép COHED tiếp cận và cung cấp hỗ trợ cho 2.072 người sống với HIV và 1.213 trẻ em bị nhiễm HIV và bị ảnh hưởng. COHED đã tư vấn và hỗ trợ việc thành lập và hoạt động của 25 tổ chức cộng đồng và cũng đã được công nhận để đưa vào chương trình cải thiện sinh kế với nhiều hoạt động tạo thu nhập cho Người Sống chung với HIV thông qua các mô hình quỹ quay vòng và tín dụng vi mô với trọng tâm đặc biệt về HIV dương tính phụ nữ và trẻ mồ côi nhiễm AIDS. COHED có một đội ngũ nhân viên giàu kinh nghiệm và tận tâm, bao gồm 22 cá nhân có nền tảng kiến thức đa dạng và chuyên nghiệp thúc đẩy dự án thành công.

 Pact Việt Nam

Hoạt động tại Việt Nam từ đầu những năm 1990, tổ chức Pact Việt Nam hướng tới mục tiêu nâng cao quy mô, chất lượng và hiệu quả của CSO đối với sự ứng phó với HIV/AIDS tại Việt Nam, cung cấp cả hỗ trợ kỹ thuật và các dịch vụ xây dựng năng lực cho các CSO Việt Nam trong các lĩnh vực dự phòng, chăm sóc và điều trị HIV/AIDS.  Theo chương trình này, Pact đã hỗ trợ 32 đối tác, thực hiện 47 dự án tại 21 tỉnh, thành. Tới thời điểm hiện tại, hơn 500 000 người đã được tiếp cận với các dịch vụ dự phòng; hơn 50 000 NCH và các thành viên gia đình của họ đã nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ; gần 6 000 trẻ sống và/hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV đã nhận được sự chăm sóc và hỗ trợ đặc biệt.

Pact dành sự ưu tiên cho các chương trình về CSO trong sự đáp ứng của Chính phủ nhằm đảm bảo sự tiếp cận dịch vụ tối đa cho người hưởng lợi.  Bên cạnh đó, Pact đã phát triển hoặc chuyển thể một loạt các công cụ xây dựng năng lực kỹ thuật, đào tạo, và cách tiếp cận sao cho phù hợp với các chương trình tại Việt Nam.  Để thực hiện điều này, Pact đã phối hợp chặt chẽ với các đối tác CSO để đảm bảo tính phù hợp và quyền sở hữu của phương pháp tiếp cận hiện đang được sử dụng rộng rãi. Các công cụ và các khóa tập huấn hiện có tập trung chủ yếu vào chăm sóc hỗ trợ tại nhà và dựa vào cộng đồng, hỗ trợ cho trẻ em sống và/hoặc bị ảnh hưởng bởi HIV, và cải tiến các chương trình tiếp cận đồng đẳng.  Bộ công cụ theo dõi và đánh giá về HIV/AIDS của Pact đã được công nhận trên trường quốc tế và đã đóng góp một cách đáng kể cho chất lượng số liệu báo cáo từ các CSO hoạt động trong chương trình PEPFAR tại Việt Nam, đồng thời trong việc sử dụng các dữ liệu nhằm cải tiến chất lượng chương trình. Năm 2007, Pact Việt Nam đã mở rộng chương trình lồng ghép việc nâng cao năng lực tập trung vào các nhu cầu trọng yếu về phát triển tổ chức, với mục tiêu đảm bảo về năng lực dài hạn của các đối tác CSO để góp phần vào sự đáp ứng bền vững của quốc gia. Trong thời gian chuẩn bị cho việc thỏa thuận ký kết dự án QTC HIV vòng 9, Pact đã cung cấp hỗ trợ kỹ thuật về tư vấn và đào tạo cho VUSTA và các SSR trong các lĩnh vực chủ đạo như: quản lý nguồn tài trợ phụ, quản lý dự án, quản lý tài chính, theo dõi và đánh giá.  Pact hiện có 22 nhân viên (trong nước và quốc tế) đang quản lý chương trình hàng năm với tổng ngân sách trị giá 10.500.000 USD.

Do Pact không trực tiếp thực hiện các hoạt động của dự án cũng như không trực tiếp cung cấp các dịch vụ tới người hưởng lợi, mối quan hệ giữa Pact với các VNGOs hoạt động tại cộng đồng có thể sẽ hạn chế do phải thông qua các SSRs.  Tuy vậy, hầu hết các VNGOs là đối tác của COHED và ISDS đều đã và đang là các tổ chức nhận tài trợ từ Pact trong chương trình Community REACH do USAID/PEPFAR tài trợ, do vậy mối liên hệ cộng tác trong công việc giữa Pact với các tổ chức này cũng đã được thiết lập.

 CARE Interrnational Việt Nam - CARE

Cùng tham gia với ISDS trong dự án này còn tổ chức CARE Việt Nam. Tổ chức CARE Việt Nam là đối tác được lựa chọn để hỗ trợ ISDS về mặt kỹ thuật, là một trong các NGO quốc tế đứng đầu trong lĩnh vực phát triển và HIV/AIDS trên thế giới và ở Việt Nam. CARE với bề dày kinh nghiệm của tổ chức sẽ phối hợp chặt chẽ với ISDS cả về quản lý lẫn kỹ thuật để đảm bảo thực hiện thành công dự án với chất lượng tốt.

Trung tâm nâng cao sức khỏe cộng đồng (CHP)  

CHP là một tổ chức phi chính phủ, phi lợi nhuận và phi tôn giáo của Việt Nam hoạt động vì mục đích nhân đạo, nhằm đẩy mạnh sự phát triển bền vững. CHP được Liên hiệp các hội  khoa học và kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) thành lập vào tháng 12 năm 2006 và được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường cấp phép vào tháng 1 năm 2007. Tôn chỉ, mục đích hoạt động của CHP là phấn đấu vì sự cải thiện bền vững sức khỏe của con người thông qua các hoạt động nâng cao sức khỏe và phát triển cộng đồng với trọng tâm là nâng cao năng lực và trao quyền cho các nhóm đối tượng đích. Các nhóm đối tượng đích của chúng tôi là các nhóm dễ bị tổn thương và các nhóm chịu nhiều thiệt thòi nhất bao gồm những trẻ em và phụ nữ dễ bị tổn thương, nhóm dân số nghèo, các nhóm di biến động, các nhóm thiểu số về dân tộc và xã hội, và những người đang sống chung với HIV/AIDS vv.

 Trung tâm Nâng cao Chất lượng cuộc sống (LIFE)

LIFE là một tổ chức phi lợi nhuận Việt Nam thành lập ngày 1/8/2007 trực thuộc Liên hiệp các tổ chức khoa học kỹ thuật Việt Nam. Sứ mệnh của LIFE là nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của nhóm người, cộng đồng dễ bị tổn thương thông qua việc thực hiện các nghiên cứu, đào tạo nâng cao năng lực và thực hiện các chương trình can thiệp hiệu quả và bền vững.

Trung tâm huy động cộng đồng Việt Nam phòng chống HIV/AIDS (VICOMC)

VICOMC là tổ chức KH&CN trực thuộc Liên hiệp các tổ chức khoa học kỹ thuật Việt Nam được thành lập năm 1994. VICOMC đã có hơn 16 năm kinh nghiệm hoạt động trong lĩnh vực dự phòng HIV/AIDS kết hợp với các vấn đề phát triển như: sức khỏe sinh sản, giới, quyền con người, di cư và xóa đói giảm nghèo. Các đề tài nghiên cứu và các dự án can thiệp của VICOMC đã góp phần đáng kết vào cuộc chiến chống đói nghèo, bất bình đẳng và HIV/AIDS ở Việt Nam. Trong quá trình hoạt động VICOMC đã cung cấp các dịch vụ có chất lượng cao tới cộng đồng như nhóm người có HIV, người sử dụng ma túy, phụ nữ bán dâm và nam quan hệ tình dục đồng giới…

 


NGO-IC

NGO-IC là tổ chức Phi Chính phủ, phi lợi nhuận, phi chính trị có sứ mệnh kết nối các tổ chức xã hội (CSO) với các cơ quan Chính phủ ở Trung ương và địa phương;

lacoste boty