Tin tức

Hội thảo thường niên các tổ chức xã hội vì sự phát triển bền vững - 2016

Đăng bởi: ngoicvn
01/09/2016

Hội thảo thường niên “Các tổ chức xã hội (TCXH) vì sự phát triển bền vững” vừa được tổ chức trung tuần tháng 8/2016, do Liên hiệp các hội khoa học & kỹ thuật Việt Nam (VUSTA) và Trung tâm thông tin Tổ chức phi chính phủ (NGO-IC) cùng một số NGO Việt Nam tổ chức.

Tham dự, có hàng trăm đại biểu đại diện các TCXH trong và ngoài VUSTA, các cơ quan quản lý nhà nước trung ương, các nhà tài trợ trong nước và quốc tế, một số Liên hiệp hội địa phương (thuộc VUSTA), viện nghiên cứu, nhóm cộng đồng, cơ quan báo chí.

Các đại biểu tập trung bàn thảo một số vấn đề chủ chốt trong sự phát triển bền vững của các TCXH: Môi trường pháp lý cho sự phát triển các TCXH; Các giải pháp nhằm tăng cường vai trò, hiệu quả tư vấn, phản biện, xây dựng chính sách của các TCXH; Tài chính bền vững cho sự phát triển các TCXH. Trước đó, những vấn đề này đã được bàn nhiều tại một số hội thảo vệ tinh do VUSTA, NGO-IC cùng một số tổ chức khác thuộc VUSTA tổ chức.

Bàn về sự phát triển và những đóng góp của các TCXH, có các tham luận: “Sự phát triển của các TCXH: Cơ hội, thách thức, giải pháp” (BS Đỗ Thị Vân, giám đốc NGO-IC); “Mạng lưới VNGO&CC với hoạt động hỗ trợ ứng phó biến đổi khí hậu” (Vũ Thế Thường, Trung tâm Phát triển nông thôn bền vững); “Xây dựng hệ thống cộng đồng bền vững trong phòng chống HIV/AIDS” (TS Phạm Nguyên Hà, phó giám đốc dự án VUSTA-GF và cộng sự); “Hoạt động của Mạng an ninh, lương thực & giảm ngèo - CIFPEN” (Phạm Văn Thành, chủ tịch CIFPEN); “Các TCXH dân sự với việc thúc đẩy bình đẳng giới” (Vương Thị Hanh, giám đốc Trung tâm Hỗ trợ giáo dục & Nâng cao năng lực cho phụ nữ).

Về tư vấn, phản biện và đóng góp xây dựng chính sách (XDCS), có các tham luận: “Các giải pháp tăng cường vai trò, hiệu quả tư vấn, phản biện, XDCS của các TCXH Việt Nam” (TS Trần Tuấn, giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Đào tạo & Phát triển cộng đồng - RTCCD, VUSTA); “Sự tham gia của các tổ chức trực thuộc trong công tác vận động chính sách (VĐCS) và vai trò kết nối của VUSTA” (ThS Trần Xuân Việt, Ban KH-CN&MT, VUSTA); “Vai trò NGOs trong VĐCS: Kinh nghiệm từ các liên minh VĐCS” (TS Phạm Quang Tú, OXFAM); “Một số bài học qua quá trình vận động cho quyền LGBT (đồng tính, song tính, hoán tính) ở Việt Nam” (ThS Lê Quang Bình, chủ tịch Nhóm làm việc vì quyền tham gia của người dân); “Kinh nghiệm VĐCS của Liên minh Năng lượng bền vững Việt Nam - VSEA” (Nguyễn Thị Hà, điều phối VSEA); “Đề xuất giải pháp tăng cường vai trò, hiệu quả VĐCS của các TCXH qua kinh nghiệm hình thành, hoạt động Mạng lưới Vn-BAN vận động loại bỏ Amiang ra khỏi Việt Nam năm 2020” (TS Trần Tuấn và cộng sự).

Các ý kiến tập trung nhiều nhất vào “Tạo môi trường pháp lý cho TCXH”, “Tài chính bền vững cho TCXH”, “Nâng cao năng lực tư vấn, phản biện, đóng góp xây dựng chính sách”.

Tạo môi trường pháp lý cho TCXH
Như ý kiến Phó chủ tịch VUSTA Phan Tùng Mậu tại Hội thảo, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật tạo điều kiện cho TCXH hoạt động, song còn nhiều dư địa trống vắng quy định pháp lý; nhiều TCXH hoạt động hiệu quả nhưng không có tư cách pháp nhân; nhiều chính sách ban hành rất khó thực hiện; chưa có thiết chế pháp lý thúc đẩy bình đẳng, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình.

Nêu hiện trạng các TCXH, vai trò các TCXH trong phát triển kinh tế - xã hội, cơ hội và thách thức cho TCXH ở Việt Nam, BS Đỗ Thị Vân (giám đốc NGO-IC) đồng thời đề nghị: Cần đối xử bình đẳng giữa các TCXH; Cần tăng cường chuyển giao dịch vụ công cho các TCXH theo hướng công khai, bình đẳng; Cần có chính sách thuế đặc thù cho TCXH; Cần sửa Nghị định 93/2009/NĐ-CP theo hướng trao quyền tự chủ cho TCXH; Cần sửa Luật Ngân sách, có mục ngân sách nhà nước dành cho TCXH, tránh cào bằng, phải dựa vào kết quả hoạt động và đấu thầu rộng rãi; Tăng cường hỗ trợ nâng cao năng lực, kết nối, chia sẻ thông tin giữa TCXH với cơ quan nhà nước; Tăng cường nhận thức về vị trí, vai trò của TCXH trong phát triển đất nước.

Đối với Luật về Hội, theo bà Đỗ Thị Vân, nên gọi là “Luật về hội và các tổ chức phi chính phủ (NGOs)”. Về phạm vi điều chỉnh Luật, cần gồm cả hội có hội viên (hội), tổ chức không có hội viên (NGO, quỹ) và tổ chức cộng đồng, không đăng ký. Về thủ tục thành lập TCXH, cần giảm thời gian xem xét cấp phép còn 10 – 15 thay cho 60 ngày; bỏ việc công nhận điều lệ và người đại diện pháp lý của hội. Về chính sách của nhà nước đối với hội, cần đổi chương “Quản lý nhà nước đối với hội” thành “Chính sách của nhà nước đối với hội”; bỏ quy định về việc không cho lập hội trùng lĩnh vực hoạt động chính của hội lập trước đó; bỏ cơ chế bộ chủ quản, quy một đầu mối quản lý hội. Cùng đó, cần tạo môi trường pháp lý bình đẳng giữa các hội, tạo sự cạnh tranh lành mạnh trong cung cấp dịch vụ công; đánh giá hiệu quả cung cấp dịch vụ của các TCXH, trong đó có cả đoàn thể chính trị - xã hội; tăng cường vai trò tòa án giải quyết tranh chấp, khiếu nại liên quan hội; bổ sung chính sách về thuế đối với hội.

Theo TS, Luật sư Hoàng Ngọc Giao (Viện Chính sách, Pháp luật & Phát triển), “môi trường pháp lý cho các TCXH Việt Nam chưa đảm bảo đầy đủ quyền lập hội và sinh hoạt nội bộ của dân; chưa khuyến khích sự tham gia của dân vào hoạt động xã hội; chưa có thiết chế pháp lý đảm bảo bình đẳng, công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình trong việc thành lập và hoạt động các TCXH; tạo sự bất bình đẳng trong quan hệ giữa các TCXH”. Đánh giá chung Dự thảo Luật về Hội, ông Giao cho rằng: Cấu trúc và nội dung Dự thảo mới là sao chép Nghị định 45/2010/NĐ-CP 21/4/2010 (về tổ chức, hoạt động, quản lý hội). Chưa phản ánh, giải quyết được nhiều vấn đề phát sinh từ thực tiễn đặc thù hội ở VN, nhiều chính sách liên quan thành lập, hoạt động hội chưa được thể chế hóa. Nội dung còn sơ sài, điều chỉnh đồng nhất các loại hình hội; chưa chuyển tải được chính sách thành định chế pháp lý; không nhất quán giữa chính sách và nội dung quy phạm; thiếu quy định về quyền lập hội, tham gia hội, hoạt động hội; nhà làm luật đã đồng nhất hóa quy trình, thủ tục, quản lý nhà nước, áp dụng chung cho mọi loại hội.

Từ đó, ông Hoàng Ngọc Giao kiến nghị: Việc vội vàng thảo luận và thông qua dự thảo Luật về hội, trong tình trạng hiện nay, sẽ dẫn tới sự ra đời một đạo luật kém chất lượng, hình thức, thiếu tính khả thi; đồng thời không quán triệt được tinh thần đổi mới của Hiến pháp 2013 và đường lối của Đảng trong tình hình hiện nay đối với việc thành lập, hoạt động hội. Quốc hội nên dành thêm thời gian, ít nhất là sau hai kỳ họp nữa, để Chính phủ có đủ thời gian hoàn chỉnh dự án Luật về hội.

Các ý kiến này phù hợp thực tế do TS Phạm Văn Tân, phó chủ tịch kiêm tổng thư ký VUSTA: Đa số các hội, cả trong và ngoài VUSTA, đều cơ bản không nhất trí nội dung Dự thảo; Việc lấy ý kiến các bên liên quan, nhất là các đối tượng bị Luật điều chỉnh trực tiếp, còn mang tính hình thức, chiếu lệ, gây tốn kém không cần thiết. Ông Phạm Văn Tân đề nghị: Quy trình lấy ý kiến các bên liên quan, nhất là các đối tượng chịu sự điều chỉnh của Luật, phải đi vào thực chất và có phương án kiểm chứng việc tiếp thu ý kiến phản hồi, nhằm nâng cao hiệu quả xây dựng luật, tránh bệnh hình thức và sự tốn phí.

Nhất trí các ý kiến trên, PGS-TS Vũ Công Giao (Đại học quốc gia Hà Nội) đồng thời đề nghị sớm ban hành Luật về hội với nội dung phù hợp tiêu chuẩn của luật nhân quyền quốc tế và xu hướng chung thế giới về tự do hiệp hội. Về cách tiếp cận, nên xác định đây là luật để bảo vệ, bảo đảm thực thi quyền tự do hiệp hội chứ không phải chỉ để quản lý hội; do vậy luật cần xác định các cơ quan nhà nước đều có nghĩa vụ tôn trọng (không cản trở), bảo vệ (xử lý vi phạm) và thúc đẩy (hỗ trợ thực thi) quyền này của mọi cá nhân, tổ chức.

Về thủ tục thành lập, nên quy định quyền được khiếu nại để xem xét lại quyết định của cơ quan cấp đăng ký; thủ tục đăng ký thành lập cần đơn giản, rõ ràng, thuận tiện, nhanh, để mọi tổ chức, cá nhân đều có thể hiểu và thực hiện. Về quản lý, giám sát, nên quy định cụ thể, rõ ràng nghĩa vụ công khai, cung cấp thông tin và trách nhiệm giải trình trong hoạt động hội, nhất là các hội nhận ngân sách công và tài trợ, quyên góp của công chúng.

Cũng theo ông Vũ Công Giao, Bộ luật Hình sự và Luật xử lý vi phạm hành chính cần sửa đổi, bổ sung các chế tài với những hành vi từ chối, ngăn cản các hành vi khác vi phạm quyền tự do hiệp hội của người dân, đồng thời xóa bỏ những quy định đi ngược tinh thần của quyền tự do quan trọng này.

Phân tích Quyết định 64/2001/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) và Nghị định 93/2009/NĐ-CP của Chính phủ ban hành Quy chế quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN, TS-Luật sư Hoàng Ngọc Giao cho rằng chính sách cơ bản của Nghị định 93/2009/NĐ-CP (quản lý và sử dụng viện trợ PCPNN) không tạo thuận lợi cho bên cấp viện trợ và bên nhận viện trợ). Theo ông Hoàng Ngọc Giao, Nghị định 93/2009/NĐ-CP là sản phẩm lập quy với cách tiếp cận không phù hợp các quy định của pháp luật hiện hành về tư cách chủ thể của Bên viện trợ và Bên nhận viện trợ; Nghị định 93 - thẩm định, phê duyệt, báo cáo đối với từng dự án viện trợ phi chính phủ nước ngoài (PCPNN) - hạn chế quyền của pháp nhân dân sự, không phù hợp Bộ luật Dân sự.

Từ đó, ông Hoàng Ngọc Giao kiến nghị: Thống nhất một đầu mối quản lý viện trợ PCPNN với quản lý hoạt động NGOs nước ngoài; Đơn giản tối đa chế độ báo cáo/nhận báo cáo từ bên cấp viện trợ; Quy định về tiếp nhận viện trợ PCPNN từ cá nhân, tổ chức không hiện diện tại Việt Nam; Quy định cụ thể quyền và nghĩa vụ của bên tiếp nhận và bên cấp viện trợ PCPNN; Cần phân loại quản lý viện trợ theo quy mô dự án (ví dụ, dưới 50.000 USD cần đăng ký/thông báo, dưới 300.000 USD cần đăng ký đơn giản, từ 500.000 USD trở lên cần đăng ký thủ tục đầy đủ).

Thảo luận “Môi trường pháp lý cho phát triển các TCXH”, còn có tham luận thể hiện quá trình nghiên cứu công phu, đề nghị cụ thể nhiều chi tiết, của ông Nguyễn Ngọc Lâm, chủ tịch Trung tâm Nghiên cứu & Quản lý phát triển bền vững (với tham luận “Quy định thành lập và giải thể NGOs và các kiến nghị đối với Luật về hội”); bà Đỗ Thị Vân giám đốc NGO-IC và cộng sự (với tham luận “Cơ chế quản lý trong Luật về hội: những bất cập và khuyến nghị”); PGS-TS Vũ Công Giao, Đại học Quốc gia Hà Nội (với tham luận “Hội và tự do hiệp hội ở Việt Nam: lịch sử phát triển và khung pháp lý”).

Tài chính bền vững cho TCXH
Tham gia chuyên đề này, có nhiều tham luận xuất phát từ thực tiễn nghiên cứu, đào tạo, hỗ trợ xã hội và phát triển cộng đồng lâu nay. Đó là: “Tài chính bền vững cho sự phát triển các TCXH ở Việt Nam: thách thức & giải pháp” (TS Hàn Mạnh Tiến, chủ tịch Viện Nghiên cứu, Đào tạo & Quản lý); “Dịch vụ công (DVC) và chuyển giao DVC cho các TCXH” (TS Tạ Ngọc Hải, Viện khoa học Tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ); “Chính sách tài chính của nhà nước đối với NGOs: Thực trạng và giải pháp tiếp cận bình đẳng nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước (NSNN)” (ThS Nguyễn Khắc Giang & TS Nguyễn Đức Thành, Viện Nghiên cứu Kinh tế & Chính sách); “Đánh giá nhanh môi trường pháp lý và chính sách” (TS Hàn Mạnh Tiến và cộng sự); “Doanh nghiệp (DN) xã hội và môi trường pháp lý cho các TCXH Việt Nam” (Phạm Kiều Oanh, giám đốc Trung tâm Hỗ trợ sáng kiến phục vụ cộng đồng); “Tham luận chia sẻ của Viện Phát triển sức khỏe cộng đồng - LIGHT” (Nguyễn Thu Giang, phó viện trưởng LIGHT); “Tham luận chia sẻ của Trung tâm Bảo tồn sinh vật biển & Phát triển cộng đồng - MCD ” (MCD)…

TS Hàn Mạnh Tiến khuyến nghị: Tăng cường hiểu biết và thay đổi nhận thức xã hội, về vai trò, trách nhiệm và hoạt động của TCXH dân sự; Xác lập chính thức địa vị pháp lý và vai trò, trách nhiệm của xã hội dân sự (XHDS) trong sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam và hoàn thiện khung pháp lý đảm bảo cho khu vực XHDS hoạt động chính danh, minh bạch, bình đẳng; Thay thế Nghị định 93/2009/NĐ-CP bằng một nghị định mới về quản lý, sử dụng viện trợ PCPNN theo hướng thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực NGO nước ngoài phục vụ phát triển xã hội bền vững, tạo thêm nguồn lực bổ sung giảm gánh nặng cho nhà nước về trách nhiệm xã hội; Bổ sung, sửa đổi và hoàn thiện các quy định về thuế, tài chính, trách nhiệm xã hội và vinh danh DN, nhằm khuyến khích DN đóng góp từ thiện, hỗ trợ cộng đồng; Nâng cao năng lực các TCXH dân sự, tạo tiền đề cần thiết để khu vực XHDS phát triển bền vững.

Về dịch DVC và chuyển giao DVC cho các TCXH, TS Tạ Ngọc Hải khuyến nghị: 1/- Chuẩn hóa, bổ sung các khái niệm làm cơ sở để thống nhất nhận thức và hành động chính sách đối với hoạt động cung ứng dịch vụ công cộng và xã hội hóa (XHH) cung ứng DVC với nhiều hình thức; tiếp tục ban hành, bổ sung chính sách công về vấn đề này. 2/- Đẩy mạnh thực hiện XHH DVC theo hướng nhà nước chỉ đóng vai trò định ra luật, kiểm soát, điều tiết, can thiệp bảo hộ để các thành phần kinh tế ngoài nhà nước nhận làm DVC công khai, bình đẳng; việc gì, lĩnh vực nào, địa bàn nào tư nhân không tham gia thì nhà nước chịu trách nhiệm cung cấp DVC đó. 3/- Cho áp dụng thí điểm một số phương thức chuyển giao mới (liên danh, hợp danh, đại lý…) trên nhiều lĩnh vực đời sống xã hội. 4/- Sớm ban hành luật về các tổ chức phi lợi nhuận, các tổ chức công ích, tạo cơ sở pháp lý cho thực hiện XHH, chuyển giao một số DVC cho các TCXH.

Bàn giải pháp tiếp cận bình đẳng nguồn lực tài chính từ NSNN, ThS Nguyễn Khắc Giang và TS Nguyễn Đức Thành nhìn nhận: Về mặt ổn định lâu dài, nguồn hỗ trợ tài chính bền vững của NGOs Việt Nam vẫn phải phụ thuộc NSNN, dưới hình thức cung cấp dịch vụ. Đây là đặc điểm phổ quát trên thế giới. Nghiên cứu tổng quan toàn cầu về hoạt động NGOs cho thấy NSNN (qua đấu thầu và dịch vụ) thường chiếm gần 50 % nguồn thu cho NGOs. NGOs Việt Nam, với lợi thế của mình, hoàn toàn có khả năng tăng cường hợp tác với các cơ quan, tổ chức nhà nước để thực hiện DVC nhà nước giao. Phải theo dõi và tác động vào quá trình tham vấn về các chính sách nhà nước đang xem xét sửa đổi sắp tới, nhất là Nghị định 45/2010/NĐ-CP 21/4/2010 và các văn bản buộc phải sửa đổi theo quy định khi gia nhập Hiệp định TPP, theo hướng tạo môi trường thể chế bình đẳng hơn giữa NGOs Việt Nam, CBOs với các tổ chức quần chúng công. Mặt khác, NGOs Việt Nam cần từng bước nâng cao năng lực của tổ chức trong một số lĩnh vực dịch vụ mình có ưu thế, đáp ứng nhu cầu của nhà nước và xã hội.

Nâng cao năng lực tư vấn, phản biện, đóng góp xây dựng chính sách
Đánh giá nhanh môi trường pháp lý và chính sách, nhóm nghiên cứu gồm TS Hàn Mạnh Tiến, TS Nguyễn Thị Thu và ThS Lê Thị Hải Yến khuyến nghị với nội dung như ông Hàn Mạnh Tiến đã nêu. Đồng thời, nhóm này đề xuất: Nghiên cứu đa chiều thực trạng, xu hướng làm từ thiện của các loại hình DN, rào cản và khó khăn thực thi chính sách trong quá trình làm từ thiện DN; Nghiên cứu toàn diện hơn về vai trò TCXH dân sự trong huy động, sử dụng nguồn tài trợ cho mục tiêu phát triển; Đánh giá và tài liệu hóa thực tiễn, mô hình hợp tác giữa DN và TCXH dân sự trong chương trình hỗ trợ phát triển cộng đồng.

Bàn về sự tham gia của các tổ chức trực thuộc trong vận động chính sách (VĐCS) và vai trò kết nối của VUSTA, ông Trần Xuân Việt khuyến nghị: VUSTA cần tăng cường cơ sở pháp lý, vai trò cầu nối, tạo thuận lợi cho các tổ chức khoa học & công nghệ (KH&CN) trực thuộc tiếp cận các nguồn kinh phí khi tham gia tư vấn chính sách; Các tổ chức KH&CN trực thuộc cần lưu ý thông tin với VUSTA, đẩy mạnh hoạt động truyền thông, tăng cường năng lực nghiên cứu, tăng cường liên kết các hội khoa học & kỹ thuật chuyên ngành, NGOs trong hệ thống và các Liên hiệp hội địa phương.

Bàn giải pháp tăng cường vai trò, hiệu quả VĐCS của các TCXH, qua kinh nghiệm tạo lập Mạng lưới Vn-BAN vận động loại bỏ Amiang ra khỏi Việt Nam năm 2020, nhóm Ủy viên thường trực Vn-BAN (BS Đỗ Thị Vân, BS-TS Trần Tuấn, BS-TS Phạm Nguyên Hà) nhấn mạnh các bài học: Phối hợp hoạt động với liên minh khác; Giải quyết một số vấn đề nóng của xã hội; Có chuyên gia hàng đầu của riêng liên minh. Nhóm này đồng thời khuyến nghị giải pháp “5 bước hình thành” Mạng lưới: 1/- Củng cố năng lực hoạt động của liên minh đã có (liên minh hạt giống). 2/- Mở rộng hoạt động liên minh hạt giống sang lĩnh vực mới theo điểm nóng xã hội. 3/- Tạo chuyên gia cho liên minh hạt giống về điểm nóng xã hội đã chọn. 4/- Hình thành dự án mới và triển khai hiệu quả thu hút sự tham gia. 5/- Thời điểm chín muồi tạo mạng lưới/liên minh mới đặc thù cho vấn đề hành động; từ đó nâng tầm hoạt động.

Bàn giải pháp duy trì Mạng lưới Vn-BAN, từ thực tế 2 năm hoạt động Mạng lưới Vn-BAN, nhóm Ủy viên thường trực Vn-BAN nhấn mạnh các bài học: Xác định chiến lược rõ ràng; Kế hoạch hành động cụ thể, chủ động thực hiện; Có tổ chức điều phối và chuyên gia hạt nhân; Liên kết trong nước, quốc tế. Đồng thời, nhóm này kiến nghị giải pháp tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động Mạng lưới: Có dự án riêng tăng cường chất lượng, hiệu quả hoạt động Mạng lưới Vn-BAN; Có dự án đặc thù về phát triển năng lực truyền thông VĐCS cho liên minh hạt giống EBHPD chia sẻ với mạng lưới Vn-BAN; Giải pháp về hạ tầng cơ sở chung cho TCXH; Giải pháp về tạp chí/newsletter chung cho TCXH; Giải pháp tạo facebook riêng cho Vn-BAN.
P.N.B

 

 

 

 

 


NGO-IC

NGO-IC là tổ chức Phi Chính phủ, phi lợi nhuận, phi chính trị có sứ mệnh kết nối các tổ chức xã hội (CSO) với các cơ quan Chính phủ ở Trung ương và địa phương;

lacoste boty