Tin tức

Tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân

Đăng bởi: ngoicvn
20/10/2015

 

Kính gửi: Quốc hội

Chuẩn bị cho kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIII, Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phối hợp với Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã tổng hợp được 4.492 ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước gửi tới Quốc hội, trong đó có 2.024 ý kiến, kiến nghị của cử tri được phản ánh qua Đoàn đại biểu Quốc hội của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và 2.468 ý kiến, kiến nghị của nhân dân qua hệ thống Mặt trận Tổ quốc Việt Nam các cấp. Thay mặt Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tôi xin trình bày trước Quốc hội Báo cáo tổng hợp ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân cả nước.

I. VỀ TÂM TƯ, NGUYỆN VỌNG CHUNG CỦA CỬ TRI VÀ NHÂN DÂN 

Từ sau kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XIII đến nay, mặc dù có những khó khăn do tình hình thế giới và khu vực diễn biến phức tạp nhưng kinh tế vĩ mô nước ta tiếp tục ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao hơn cùng kỳ năm 2014[1]; chính sách xã hội được thực hiện tốt; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; công tác đối ngoại của Đảng, ngoại giao của Nhà nước tiếp tục khẳng định và nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Các hoạt động kỷ niệm các ngày lễ lớn, đặc biệt là lễ kỷ niệm 70 năm Cách mạng tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đã được tổ chức trọng thể, tạo niềm tin, phấn khởi trong nhân dân. Việc chuẩn bị tổ chức Đại hội Đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng được nhân dân cả nước quan tâm sâu sắc. Công tác xây dựng pháp luật tiếp tục đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận[2]. Cử tri và nhân dân đánh giá cao hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XIII. Hoạt động giám sát của Quốc hội và Ủy ban Thường vụ Quốc hội có nhiều đổi mới. Các chương trình giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên phối hợp với các bộ, ngành thực hiện trên một số lĩnh vực bước đầu có những kết quả thiết thực (phụ lục 1). Đặc biệt, việc lần đầu tiên tiến hành tổng rà soát thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng theo Chỉ thị 23/CT-TTg, ngày 27/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ đã hoàn thành đúng tiến độ, được nhân dân cả nước rất hoan nghênh. 2.070.842 người có công đang hưởng các chính sách đã được rà soát, qua đó khẳng định: số người hưởng đúng, đủ các chính sách là 95,75%, số người hưởng đúng nhưng chưa đầy đủ là 4,16%, số người hưởng sai chính sách là 0,09%. Qua tổng rà soát, có 63.768 người đã lập hồ sơ để được xem xét hưởng chính sách người có công. Các bộ, ngành liên quan và các địa phương đã và đang tích cực giải quyết những vấn đề phát hiện sau rà soát.

Bên cạnh đó, cử tri và nhân dân vẫn còn nhiều tâm tư, lo lắng trước tình hình kinh tế phát triển chưa thực sự bền vững; cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước còn chậm, chưa đạt tiến độ đề ra; chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động chưa cao; giá một số sản phẩm nông nghiệp giảm; ô nhiễm môi trường chưa được giải quyết tốt; an toàn vệ sinh thực phẩm chưa đảm bảo; tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông vẫn diễn ra phức tạp; tình hình cháy, nổ xảy ra ở nhiều nơi gây thiệt hại lớn về người và tài sản; thiên tai, mưa lũ gây ngập lụt ở nhiều địa phương; hiện tượng nước biển ngày càng dâng cao và xâm nhập sâu vào đất liền, nhất là các tỉnh ven biển khu vực Tây Nam bộ ảnh hưởng đến đời sống và sản xuất của nhân dân; tình trạng tham nhũng chưa được đẩy lùi. Cử tri và nhân dân bày tỏ sự bất bình trước việc Trung Quốc tăng cường các hoạt động cải tạo, bồi đắp, xây dựng trái luật pháp quốc tế các công trình tại các đảo chìm, bãi đá thuộc chủ quyền của Việt Nam.

Cử tri và nhân dân đặc biệt quan tâm đến việc chuẩn bị nhân sự của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, mong muốn những người được bầu giữ các chức vụ chủ chốt trong Đảng, chính quyền có đủ đức, đủ tài để xây dựng Đảng, Nhà nước ngày càng trong sạch, vững mạnh, đồng thời cần kiên quyết loại trừ những trường hợp thoái hóa, biến chất, có biểu hiện tham nhũng, lợi ích nhóm tham gia vào bộ máy lãnh đạo các cấp. Cử tri và nhân dân chưa hài lòng về việc một số văn bản pháp luật cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 và hướng dẫn thi hành luật mới ban hành còn chậm[3]. Cử tri và nhân dân mong muốn Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tiếp tục đề cao trách nhiệm giám sát, yêu cầu các bộ, ngành thực hiện nghiêm túc việc giải quyết và trả lời ý kiến, kiến nghị của cử tri và nhân dân, đề cao trách nhiệm của người đứng đầu các bộ, ngành trong việc thực hiện trách nhiệm này.

II. NHỮNG Ý KIẾN, KIẾN NGHỊ  CỦA CỬ TRI VÀ NHÂN DÂN

1. Về tình hình nông nghiệp, nông dân và nông thôn

Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục được nhân dân cả nước quan tâm. Qua 4 năm thực hiện, chương trình đã đạt được những kết quả tích cực, bộ mặt nông thôn không ngừng đổi mới, đời sống nhân dân ở nông thôn ngày càng được nâng cao[4]. Những kết quả đó có được là do cùng với sự lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức thực hiện của các cấp ủy Đảng, các cơ quan nhà nước từ Trung ương tới địa phương còn có sự ủng hộ, tham gia và đóng góp rất to lớn của nhân dân và các doanh nghiệp[5]. Tuy vậy, cử tri và nhân dân ở nhiều nơi còn băn khoăn về việc huy động đóng góp của người dân trong việc xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn vẫn còn cao, nhất là đối với các vùng mật độ dân cư thấp, địa bàn khó khăn; việc lựa chọn con giống, cây giống có năng suất, chất lượng, phù hợp và có tính ổn định lâu dài với từng địa phương cũng như việc thực hiện liên kết “4 nhà” đã triển khai chưa thực sự hiệu quả. Đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm, chỉ đạo các bộ, ngành liên quan nghiên cứu, có giải pháp kịp thời để chương trình đạt hiệu quả
cao hơn.

Cử tri và nhân dân phản ánh tình trạng giá lúa hiện nay thấp, nguồn cung đã vượt cầu; việc thu mua tạm trữ chỉ là biện pháp tạm thời, chưa thật sự nâng được giá lúa[6]. Trong khi đó, vẫn còn tình trạng ép giá, hủy hợp đồng thu mua lúa gây thiệt hại cho nông dân. Một số sản phẩm nông nghiệp khó tiêu thụ, bị ứ đọng như dừa, hoa màu, mía, tôm, cá lóc…[7]. Đề nghị Chính phủ quan tâm đến quy hoạch trồng lúa chất lượng cao, xây dựng các cơ sở chế biến nông sản, thực phẩm, xây dựng thương hiệu gạo Việt Nam xuất khẩu, có chính sách hỗ trợ nông dân liên kết với doanh nghiệp, tăng cường việc áp dụng khoa học, kỹ thuật trong sản xuất nông nghiệp.

Với việc Việt Nam đã ký kết thành công các hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương, nhất là Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) đã chính thức đạt được thỏa thuận, quá trình hội nhập ngày càng sâu rộng vào nền kinh tế thế giới sẽ hình thành các chuẩn mực mới cho thương mại toàn cầu. Cử tri và nhân dân đặc biệt quan tâm đến phát triển ngành nông nghiệp, trước hết là ngành chăn nuôi nước ta trước những thách thức mới. Đề nghị Chính phủ quan tâm hơn nữa, chỉ đạo phát triển ngành nông nghiệp, có chính sách để nâng cao chất lượng sản phẩm, giảm chi phí, nâng cao sức cạnh tranh cho sản phẩm nông nghiệp; có chính sách hỗ trợ các hợp tác xã, các doanh nghiệp, cơ sở chăn nuôi tiếp cận với nguồn vốn lớn, dài hạn để mở rộng sản xuất và hiện đại hóa nông nghiệp, phát triển thương hiệu cho các sản phẩm nông nghiệp; khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất thức ăn chăn nuôi và các vật tư nông nghiệp để hạn chế việc phụ thuộc vào nguyên liệu “đầu vào” cho nông nghiệp từ nước ngoài.

2. Về sản xuất, kinh doanh

Cử tri và nhân dân đồng tình, đánh giá cao việc Chính phủ điều hành kinh tế vĩ mô phù hợp với sự biến động của thị trường, bảo đảm hài hòa lợi ích của Nhà nước, doanh nghiệp và người dân. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân phản ánh việc giá xăng dầu đã giảm nhiều lần nhưng giá cước vận tải ở một số địa phương giảm chưa phù hợp[8]; giá vật tư nông nghiệp như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, thức ăn chăn nuôi vẫn ở mức cao, gây khó khăn cho sản xuất và đời sống của người dân; giá bán điện, nước ngày càng cao, cách thức tính giá điện, biểu giá bán lẻ áp dụng cho người dân sử dụng điện sinh hoạt chưa hợp lý[9]. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo chặt chẽ các bộ, ngành chức năng tăng cường công tác kiểm tra việc niêm yết giá cả các mặt hàng trên thị trường, khuyến khích hình thành và phát triển thị trường cạnh tranh lành mạnh, tránh tình trạng các doanh nghiệp có vị thế độc quyền định giá không hợp lý, thiếu minh bạch.

Trên thị trường vẫn còn lưu thông nhiều loại hàng hoá như phân bón, thuốc bảo vệ thực vật giả hoặc kém chất lượng, thực phẩm chức năng không rõ nguồn gốc; hoạt động buôn lậu và gian lận thương mại còn diễn biến phức tạp gây thiệt hại đến sản xuất, tiêu dùng, khó khăn cho sản xuất và đời sống của nhân dân. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ, ngành chức năng tăng cường hơn nữa công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường và có biện pháp xử lý nghiêm minh, đồng thời thông tin công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng những cơ sở sản xuất kinh doanh hàng giả, hàng kém chất lượng để người dân giám sát việc xử lý của cơ quan chức năng và yên tâm hơn trong sản xuất kinh doanh, ổn định cuộc sống.

3. Về chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân

Cử tri và nhân dân phấn khởi trước một số giải pháp đã triển khai thực hiện như: mở rộng độ bao phủ bảo hiểm y tế hướng tới bảo hiểm toàn dân[10], đổi mới hệ thống y tế, đưa vào sử dụng nhiều cơ sở y tế và chuyển giao thành công nhiều kỹ thuật y tế tiên tiến cho tuyến dưới; ứng dụng nhiều tiến bộ khoa học công nghệ và kỹ thuật hiện đại vào điều trị và dự phòng; đẩy mạnh xã hội hóa cung cấp dịch vụ y tế; quy định người có thẻ bảo hiểm y tế được thanh toán khám, chữa bệnh bảo hiểm y tế vào ngày nghỉ và ngày lễ… Tuy nhiên, cử tri và nhân dân phản ánh vẫn còn tình trạng quá tải ở một số bệnh viện, nhất là khi xảy ra dịch bệnh; ở một số nơi các dịch vụ khám chữa bệnh cho người có thẻ bảo hiểm y tế chưa tốt; việc một số cơ sở y tế không niêm yết giá thuốc, tình trạng thuốc chữa bệnh chất lượng thấp, thuốc không rõ nguồn gốc xuất xứ, không đủ tiêu chuẩn còn nhiều. Đề nghị Bộ Y tế tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện và xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân.

Cử tri và nhân dân rất lo lắng trước tình trạng một số loại thực phẩm không rõ nguồn gốc, thực phẩm không an toàn như: trái cây, rau, củ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật thiếu kiểm soát; việc sử dụng chất cấm trong sản xuất, chế biến nông sản và chăn nuôi chưa được quản lý, kiểm soát chặt chẽ. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, các bộ, ngành liên quan và chính quyền địa phương tăng cường kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh đối với các hành vi vi phạm vệ sinh an toàn thực phẩm để bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.

4. Về  giáo dục, đào tạo và việc làm

Cử tri và nhân dân cả nước đặc biệt quan tâm và đánh giá kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2015 đã thể hiện tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, cũng như sự “vào cuộc” quyết liệt của ngành giáo dục và các địa phương để tổ chức thành công kỳ thi “hai trong một” đầu tiên này. Tuy nhiên, việc xét tuyển đại học, cao đẳng với thời gian quá dài, một thí sinh được đăng ký, thay đổi nhiều nguyện vọng dẫn đến khó khăn cho nhiều trường đại học, tạo tâm lý lo lắng, bất an cho thí sinh và phụ huynh trong việc nộp, rút hồ sơ đăng ký nguyện vọng, chuyển trường; một số trường còn lúng túng trong việc xét tuyển đại học. Đề nghị Bộ Giáo dục và Đào tạo tổng kết rút kinh nghiệm về những bất cập và đề ra các giải pháp khắc phục trong thời gian tới.

Cử tri và nhân dân tiếp tục phản ánh tình trạng dạy thêm và học thêm ở các cấp học, đặc biệt là ở bậc tiểu học vẫn còn diễn ra khá phổ biến, nhất là ở các đô thị, thành phố lớn; tình trạng lạm thu trong các cơ sở giáo dục công lập dưới hình thức “đóng góp tự nguyện” của hội cha mẹ học sinh để xây dựng nhà trường gây bức xúc, khó khăn cho người dân.

Cử tri và nhân dân cũng bày tỏ băn khoăn về việc các bộ, ngành hữu quan chưa có giải pháp hiệu quả để giải quyết tình trạng  sinh viên ra trường nhiều năm nhưng vẫn chưa có việc làm. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng có giải pháp về đào tạo, sử dụng phù hợp để tránh để tình trạng lãng phí nguồn lực lao động đã được đào tạo cơ bản này.

5. Về lĩnh vực đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường

Cử tri và nhân dân phản ánh tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn còn xảy ra ở nhiều địa phương[11]. Tình trạng nước thải từ một số nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất, hộ gia đình chăn nuôi xử lý chưa đạt yêu cầu thải ra nguồn nước mặt, gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe, đời sống và sản xuất của nhân dân. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng, chính quyền địa phương phối hợp với các tổ chức, đoàn thể tăng cường tuyên truyền, giáo dục trong nhân dân về ý thức bảo vệ môi trường, quan tâm đến công tác xử lý rác thải, đồng thời đẩy mạnh công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật về môi trường, đảm bảo môi trường sống trong lành cho người dân.

Các nông, lâm trường hiện nay quản lý diện tích đất đai lớn song phần lớn sử dụng đất kém hiệu quả, năng suất, sản lượng trồng trọt thấp, nộp ngân sách hàng năm không đáng kể so với mức vốn đầu tư của Nhà nước; việc quản lý đất đai chưa chặt chẽ dẫn đến tình trạng lấn chiếm, cho thuê, cho mượn, chuyển mục đích, chuyển nhượng đất trái pháp luật, nhiều trường hợp vi phạm pháp luật kéo dài nhưng chậm được giải quyết[12]. Đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành liên quan quan tâm tiến hành đồng bộ các giải pháp, để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 30-NQ/TW ngày 12/3/2014 của Bộ Chính trị về tiếp tục sắp xếp, đổi mới và phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động của công ty nông, lâm nghiệp​, nhất là các công ty nông, lâm nghiệp có vị trí chiến lược về an ninh, quốc phòng; chấn chỉnh các địa phương trong công tác tổ chức thực hiện và việc giao đất trái pháp luật của các công ty nông, lâm nghiệp; đồng thời tăng cường nguồn lực phục vụ công tác đo đạc, cắm mốc ranh giới và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác đối với các công ty nông, lâm nghiệp.

Cử tri và nhân dân phản ánh tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép vẫn diễn biến phức tạp, cơ quan quản lý, bảo vệ rừng ở một số địa phương còn thiếu trách nhiệm[13]. Đề nghị Chính phủ có chính sách hỗ trợ, khuyến khích người dân thực hiện trồng rừng, phát triển lâm nghiệp phù hợp với từng loại hình thổ nhưỡng để trồng rừng có hiệu quả, quan tâm đến công tác quản lý, bảo vệ rừng và quản lý lâm sản, tích cực tuyên truyền cho người dân nâng cao ý thức bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng, đồng thời xử lý nghiêm hành vi chống người thi hành công vụ quản lý rừng.

Mặc dù đã có chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ về việc chấn chỉnh các hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác sỏi, cát trái phép trên sông nhưng những hoạt động này vẫn tiếp tục xảy ra ở nhiều địa phương[14], gây ô nhiễm môi trường, làm biến đổi dòng chảy, gây sạt lở bờ bãi, đê điều, nhà cửa, công trình và gây mất an toàn, thiệt hại tính mạng, tài sản của Nhà nước và nhân dân. Đề nghị Thủ tướng Chính phủ tiếp tục chỉ đạo các bộ, ngành chức năng và chính quyền địa phương tăng cường thanh tra, kiểm tra và có biện pháp ngăn chặn kịp thời, kiên quyết xử lý đối với tổ chức, cá nhân khai thác khoáng sản trái phép hoặc có hành vi bao che, bảo kê cho hoạt động khai thác khoáng sản trái phép; làm rõ trách nhiệm của Chủ tịch Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương nơi xảy ra tình trạng này.

6. Về lĩnh vực giao thông, vận tải và an toàn giao thông

Cử tri và nhân dân hoan nghênh đề xuất của Bộ Giao thông vận tải về việc tạm dừng thu phí sử dụng đường bộ đối với xe máy từ ngày 01/01/2016. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân bức xúc trước tình trạng xe quá khổ, quá tải tiếp tục vi phạm làm nhiều đoạn đường xuống cấp rất nhanh, gây tai nạn và ách tắc giao thông; xuất hiện một số đường dây mua bán lô gô “xe vua” cho xe quá tải vượt các trạm kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông và Thanh tra giao thông ở một số tỉnh[15]. Đề nghị Bộ Công an, Bộ Giao thông vận tải có giải pháp xử lý nghiêm khắc tình trạng trên. 

Tình trạng ùn tắc giao thông vẫn xảy ra thường xuyên ở một số tuyến phố trọng điểm của thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh; việc lấn chiếm lòng đường, vỉa hè để bán hàng chưa được xử lý triệt để. Đề nghị Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh cùng với các bộ, ngành và các cơ quan liên quan sớm có biện pháp khắc phục.

Cử tri và nhân dân quan tâm đến việc thi công các công trình giao thông còn chậm, đề nghị giám sát và đẩy nhanh tiến độ hoàn thành để đưa vào khai thác, sử dụng. Đề nghị Chính phủ tiếp tục quan tâm đầu tư, nâng cấp các tuyến đường ở nông thôn, miền núi; đầu tư xây dựng các cầu, tuyến đường lưu thông giữa các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa với thành thị để tạo điều kiện nâng cao đời sống, thuận lợi trong việc đi lại cho người dân.

7. Về tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội và khiếu nại, tố cáo

Cử tri hoan nghênh ngành Công an đã triển khai nhiều biện pháp quyết liệt trong điều tra, khám phá nhanh nhiều vụ án đặc biệt nghiêm trọng. Tuy nhiên, cử tri và nhân dân lo lắng trước tình hình tội phạm và tệ nạn xã hội còn diễn biến phức tạp, như: trộm cắp, cướp giật, lừa đảo chiếm đoạt tài sản; đáng chú ý đã liên tiếp xảy ra một số vụ giết người với hành vi dã man tại một số địa phương gây lo lắng, bất an trong nhân dân. Đề nghị Bộ Công an, chính quyền các địa phương cần tập trung đẩy mạnh công tác tuyên truyền, đấu tranh phòng ngừa kết hợp với tăng cường công tác tuần tra giữ gìn an ninh trật tự, phòng chống tội phạm.

Cử tri và nhân dân hoan nghênh Chính phủ, Thanh tra Chính phủ và chính quyền một số địa phương trong thời gian qua đã có nhiều nỗ lực trong việc tổ chức tiếp công dân, giải quyết khiếu nại, tố cáo của công dân, nhất là đối với những vụ khiếu nại, tố cáo phức tạp, kéo dài[16]. Tuy nhiên, tình hình khiếu nại, tố cáo vẫn diễn biến phức tạp, phần lớn các vụ khiếu nại, tố cáo liên quan đến thu hồi, giải tỏa, đền bù đất đai; việc cấp, đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở nhiều nơi quá chậm, tồn đọng nhiều; thủ tục thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất còn gây phiền hà cho người dân; việc chuyển đổi mô hình chợ tại một số địa phương còn nhiều bất cập, phát sinh khiếu kiện kéo dài nhưng chậm được giải quyết. Đề nghị Chính phủ chỉ đạo các ngành chức năng và chính quyền địa phương tăng cường công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, tiếp công dân, nhất là đối với các vụ khiếu kiện phức tạp, đông người để giữ vững ổn định xã hội và đời sống của nhân dân; đề cao trách nhiệm người đứng đầu, thực hiện xử lý nghiêm cán bộ thiếu trách nhiệm, vi phạm pháp luật trong việc giải quyết khiếu nại, tố cáo; rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời các văn bản pháp luật có liên quan.

8. Một số lĩnh vực khác

Bên cạnh những ý kiến, kiến nghị nêu trên, cử tri và nhân dân đề nghị Chính phủ và các cơ quan nhà nước quan tâm giải quyết một số vấn đề khác như: tình hình hạn hán kéo dài và thường xuyên ở các tỉnh miền Trung; tình trạng quản lý các dịch vụ văn hóa, giải trí, internet chưa chặt chẽ, thiếu đồng bộ ảnh hưởng đến môi trường giáo dục thế hệ trẻ; tình trạng quảng cáo không đúng sự thật; tính hiệu quả của việc triển khai thực hiện các dự án trọng điểm về phát triển kinh tế - xã hội, các dự án đầu tư từ ngân sách nhà nước và nguồn vốn ODA; tình trạng sử dụng Amiăng trắng là chất được cảnh báo có nguy cơ gây ung thư, ô nhiễm môi trường vẫn chưa được hạn chế; hiệu quả chưa cao của công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí; các doanh nghiệp Việt Nam chưa tích cực chuẩn bị để khai thác các cơ hội to lớn và sẵn sàng với các thách thức mới khi các hiệp định thương mại tự do mới ký kết có hiệu lực. Cử tri và nhân dân cũng đề nghị tăng cường các biện pháp phòng, chống oan sai, làm rõ trách nhiệm bồi thường đối với cơ quan, đơn vị, tổ chức, cá nhân vi phạm và bảo đảm bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự; đề nghị thực hiện lộ trình tăng mức lương cơ sở cho cán bộ, công chức, viên chức năm 2016.

Trên đây là ý kiến, kiến nghị chủ yếu của cử tri và nhân dân cả nước gửi đến kỳ họp thứ mười, Quốc hội khóa XIII. Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam trân trọng đề nghị Chính phủ và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nghiên cứu, tiếp thu, giải quyết và báo cáo Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, thông báo cho Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và nhân dân biết để giám sát theo quy định của Hiến pháp và pháp luật.

 

GHI CHÚ

(Kèm theo Báo cáo số: 135/BC-MTTW-ĐCT ngày 18 tháng 10 năm 2015 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam)

[1] Tổng sản phẩm trong nước (GDP) 9 tháng năm 2015 ước tính tăng 6,50% so với cùng kỳ năm 2014, trong đó quý I tăng 6,12%; quý II tăng 6,47%; quý III tăng 6,81%. Đáng lưu ý, khu vực nông, lâm, thủy sản tăng chậm hơn so với cùng kỳ các năm trước (9 tháng đầu năm 2015, tăng 2,08%; 9 tháng đầu năm 2014, tăng 2,94%; 9 tháng đầu năm 2013, tăng 2,38%; 9 tháng đầu năm 2012, tăng 2,50%; 9 tháng đầu năm 2011, tăng 3,74% - nguồn: Tổng cục Thống kê).

Chỉ số giá tiêu dùng tháng 9/2015 tăng 0,4% so với tháng 12/2014, là mức tăng thấp nhất trong 10 năm gần đây. Chỉ số giá tiêu dùng bình quân 9 tháng năm nay tăng 0,74% so với bình quân cùng kỳ năm 2014. Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/9/2015 thu hút 1.432 dự án được cấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 11,04 tỷ USD, tăng 24,3% về số dự án và tăng 44,5% về số vốn so với cùng kỳ năm 2014. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 9 tháng đầu năm 2015 ước tính đạt 2.374,5 nghìn tỷ đồng, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước (nếu loại trừ yếu tố giá tăng 9,1%, cao hơn mức tăng 7,3% của cùng kỳ năm 2014). 9 tháng năm 2015, cả nước có 227,8 nghìn lượt hộ thiếu đói, giảm 25% so với cùng kỳ năm trước (Báo cáo của Tổng cục Thống kê). Tính chung 9 tháng đầu năm 2015, ước tính cả nước nhập siêu hơn 4,03 tỷ USD, bằng 3,4% kim ngạch xuất khẩu, trong đó khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 12,59 tỷ USD; khu vực có vốn đầu tư đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) xuất siêu 8,56 tỷ USD (Báo cáo của Tổng cục Hải quan). Đáng lưu ý là kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 9 tháng đầu năm 2015 đạt 21,65 tỷ USD, giảm 5% so cùng kỳ năm 2014. Trong đó, giá trị xuất khẩu một số mặt hàng nông, lâm, thủy sản chính giảm mạnh, như cà phê (giảm 32,2%), thủy sản (giảm 17,8%), gạo (giảm 15,7%), cao su (giảm 13,7%) (nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

[2] Tại kỳ họp thứ Chín, Quốc hội khóa XIII, Quốc hội đã thông qua 11 luật, 09 nghị quyết, cho ý kiến về 15 dự án luật khác. Một số luật quan trọng về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật Tổ chức Chính phủ (sửa đổi), Luật Tổ chức Chính quyền địa phương, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân.

[3] Một số văn bản pháp luật cụ thể hóa Hiến pháp năm 2013 còn chậm như Luật về hội, Luật trưng cầu ý dân, Luật biểu tình. Một số văn bản hướng dẫn thi hành luật mới ban hành còn chậm như hướng dẫn Luật Doanh nghiệp, Luật đầu tư công, Luật hộ tịch, Luật bảo hiểm xã hội, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật căn cước công dân.

[4] Sau 4 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia Xây dựng nông thôn mới đã có 97,4% số xã hoàn thành về lập và phê duyệt quy hoạch Nông thôn mới, dự kiến hoàn thành 100% số xã vào năm 2015. Chương trình đã xây dựng được trên 5.000 công trình với khoảng 700.000 km đường giao thông nông thôn. Trong đó 23,3% số xã đạt tiêu chí giao thông, dự kiến đến hết năm 2015 đạt 35,3%. Trên lĩnh vực thủy lợi, hiện có 44,5% số xã đã đạt tiêu chí, dự kiến đến hết năm 2015 đạt 52,7%; 75,6% xã đạt tiêu chí về điện, dự kiến hết năm 2015 đạt 80,9%. Đến hết năm 2014 có 68,2% số xã đạt tiêu chí về hệ thống tổ chức chính trị xã hội, dự kiến đến hết năm 2015 đạt 79,5%. Đến hết năm 2014, có 785 xã đạt chuẩn (8,8%) và bình quân mỗi xã còn lại đạt 10 tiêu chí, tăng 5,38 tiêu chí so với năm 2010. Dự kiến đến hết năm 2015 cả nước sẽ có 1.800 xã đạt chuẩn (đạt 20%), 1.527 xã đạt từ 15-18 tiêu chí và chỉ còn 600 xã đạt dưới 5 tiêu chí (Báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn).

[5] Chỉ riêng 3 năm 2011-2013, nhân dân cả nước đã đóng góp 62.841 tỷ đồng, chiếm 13% và các doanh nghiệp đã đóng góp 30.000 tỷ đồng, chiếm 6%, tổng kinh phí triển khai Chương trình xây dựng nông thôn mới (Báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương Chương trình xây dựng nông thôn mới).

[6] Về xuất khẩu, tạm trữ lúa gạo: Khối lượng gạo xuất khẩu 9 tháng năm 2015 hơn 4,3 triệu tấn, tương ứng giá trị khoảng 1,95 tỷ USD, giảm 9,12% về khối lượng và giảm 14,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2014. Nguyên nhân là do nhu cầu tại các thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam trong các tháng đầu năm sụt giảm mạnh, cộng với yếu tố giảm giá sản phẩm (Theo báo cáo của Hiệp hội Lương thực Việt Nam). Giá chào bán gạo xuất khẩu hiện chỉ còn từ 355 đến 365 USD/tấn với loại gạo 5% tấm. Mức giá này thấp hơn 15 USD/tấn so với gạo Ấn Độ, 25 USD/tấn so với gạo Pakistan và 40 USD/tấn so với gạo của Thái Lan. Đây cũng là mức giá bán thấp nhất trong vòng năm năm qua của gạo Việt Nam. Dù giá thấp như vậy nhưng vẫn rất ít giao dịch được thực hiện trong thời gian qua, trong khi các doanh nghiệp đã tồn kho khá lớn do mua tạm trữ 1 triệu tấn gạo (tương đương 2 triệu tấn lúa) theo chủ trương của Chính phủ, chưa kể đến lượng gạo doanh nghiệp tự mua để kinh doanh (Số liệu do các doanh nghiệp xuất khẩu gạo tại Đồng bằng sông Cửu Long cung cấp).

[7] Một số sản phẩm nông nghiệp khó tiêu thụ, bị ứ đọng như dừa, hoa màu, mía, tôm, cá lóc... tại một số tỉnh như Trà Vinh, Sóc Trăng, Phú Yên, Cần Thơ, Khánh Hòa, Bắc Cạn, Bến Tre, Thái Bình.

[8] Từ đầu năm 2015 đến nay giá xăng Ron 92 được điều chỉnh tăng 4 lần với tổng mức tăng là 5.040 đồng/lít và điều chỉnh giảm 7 lần với tổng mức giảm 5.590 đồng/lít; dầu điêzen 0,05S điều chỉnh tăng 2 lần với tổng mức tăng 1.210 đồng/lít và điều chỉnh giảm 9 lần với tổng mức giảm 4.890 đồng/lít. Trong đó, kể từ tháng 7/2015 đến nay, giá xăng, dầu có xu hướng giảm khá rõ rệt (từ 04/7 đến nay, giá xăng, dầu được điều chỉnh giảm 5 đợt, xăng giảm 3.380 đ/lít, dầu điêzen 0,05S giảm 2.760 đ/lít). Như vậy, so với thời điểm đầu năm 2015 thì giá xăng Ron 92 giảm 550 đ/lít, điêzen 0,05S giảm 3.680 đ/lít (Báo cáo của Bộ Tài chính).

[9] Với cơ cấu biểu giá điện 6 bậc như hiện nay, 2 bậc đầu tiên có đơn giá thấp hơn giá điện bình quân, từ bậc 3 trở đi, tức là trên 100 kWh, đơn giá lại được tính cao hơn giá điện bình quân. Nhưng lượng điện tiêu thụ phổ biến từ bậc 03 đến bậc 05, tức là trong khoảng từ 101 kWh đến 300 kWh, vì thế phần lớn người dân đang phải trả cho 1 kWh sử dụng điện cao hơn khoảng 20% so với giá điện bình quân (Biểu giá bán điện áp dụng từ ngày 16/03/2015 ban hành kèm theo Quyết định số 2256/QĐ-BCT ngày 12/03/2015 của Bộ Công Thương).

[10] Đến nay, trên cả nước đã thực hiện triển khai tích cực Luật Bảo hiểm y tế, khuyến khích mua bảo hiểm y tế theo hộ gia đình tỷ lệ đạt gần 73% (Theo báo cáo của Bộ Y tế).

[11] Tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn xảy ra ở nhiều địa phương như: Hà Nội, Vĩnh Phúc, Hưng Yên, Ninh Bình, Hải Dương, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Tuyên Quang, Tiền Giang, Phú Yên, Ninh Thuận, Kiên Giang, Bình Định, Trà Vinh, Quảng Bình.

[12] Tính đến ngày 31/6/2012, các nông trường, lâm trường, ban quản lý rừng và khu bảo tồn, vườn quốc gia quản lý 7.996.467 ha, trong đó 7.599.580 ha đã được Nhà nước giao cho 642 nông, lâm trường quản lý, sử dụng, bao gồm 5.143.653 ha rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, đất các nông, lâm trường sử dụng để thực hiện nhiệm vụ công ích, không thực hiện sản xuất kinh doanh được Nhà nước giao đất không thu tiền sử dụng cho 284 ban quản lý, vườn quốc gia, khu bảo tồn; 472.709 ha chuyển sang hình thức thuê đất giao cho 112 nông, lâm trường; 2.029 ha chuyển sang giao đất có thu tiền sử dụng đất giao cho 04 nông, lâm trường; 1.981.189 ha giao cho 242 nông, lâm trường quản lý thuộc đối tượng phải chuyển sang thuê đất hoặc giao đất có thu tiền sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai năm 2003, nhưng các nông, lâm trường chưa làm các thủ tục liên quan để được nhà nước giao đất, cho thuê đất theo quy định. Khi tiến hành khảo sát 125 nông trường thì có 95 nông trường hoạt động có lãi với số tiền là 3.717 tỷ đồng và 30 nông trường thua lỗ với số tiền là 16 tỷ đồng. Các khoản phải thu là 3.439 tỷ đồng; các khoản nợ phải trả là 16.569 tỷ đồng (Báo cáo số 314/BC-CP ngày 25/6/2015 của Chính phủ về tình hình thực hiện chính sách, pháp luật về quản lý, sử dụng đất tại các nông, lâm trường quốc doanh giai đoạn 2004-2014).

[13] Tình trạng phá rừng, khai thác lâm sản trái phép vẫn xảy ra ở một số địa phương như Lào Cai, Bình Định, Đăk Lăk.

[14] Hoạt động khai thác khoáng sản, khai thác sỏi, cát trái phép trên sông vẫn tiếp tục xảy ra ở nhiều địa phương như Thanh Hóa, Nghệ An, Hải Phòng, Yên Bái, Sóc Trăng, Quảng Bình.

[15] Tình trạng một số đường dây mua bán lô gô “xe vua” cho xe quá tải vượt các trạm kiểm soát của lực lượng Cảnh sát giao thông và Thanh tra giao thông ở một số địa phương như thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Bình Dương.

[16] Trong năm 2015, các cơ quan nhà nước đã tiếp 406.549 lượt công dân đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh (tăng 3,5% so với năm 2014), với 4.640 đoàn đông người (giảm 4,8% so với năm 2014). Thanh tra Chính phủ đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan liên quan thực hiện tốt công tác tiếp công dân thường xuyên tại 02 Trụ sở tiếp công dân Trung ương; đã tiếp 26.066 lượt với 32.582 người, có 809 lượt đoàn đông người, 8.531 vụ việc; so với năm 2014 giảm 12% số người và tăng 18,6% số vụ việc. Các cơ quan hành chính nhà nước đã giải quyết 32.817/40.511 vụ việc khiếu nại, tố cáo thuộc thẩm quyền, đạt tỷ lệ trên 81%. Qua giải quyết khiếu nại, tố cáo đã kiến nghị thu hồi cho Nhà nước 27,1 tỷ đồng, 44,7 ha đất; trả lại cho tập thể, công dân 108,1 tỷ đồng, 14,9 ha đất; bảo vệ quyền lợi cho 2.504 người; kiến nghị xử lý vi phạm hành chính 444 (đã xử lý 278 người), chuyển cơ quan điều tra 10 vụ. Tính đến ngày 15/8/2015, các cơ quan hành chính nhà nước đã xem xét, giải quyết 512/528 vụ việc phức tạp, kéo dài nhiều năm theo Kế hoạch số 1130/KH-TTCP, đạt tỷ lệ 96,96%. Các Bộ ngành, địa phương thường xuyên kiểm tra, rà soát, giải quyết các vụ việc phức tạp, tồn đọng theo Kế hoạch 2100/KH-TTCP (Theo báo cáo số 455/BC-CP ngày 23/9/2015 của Chính phủ về công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo năm 2015).

 

PHỤ LỤC 1

Về việc triển khai 08 chương trình giám sát năm 2015 của Ban Thường trực Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam

(Kèm theo Báo cáo số 135/BC-MTTW-ĐCT ngày 18/10/2015 của Đoàn Chủ tịch Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam)

 

1. Chương trình phối hợp về tổng rà soát việc thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng trong 2 năm 2014-2015[1]

Tổng kết hai năm triển khai tổng rà soát cho thấy: có 2.070.842 người có công đang hưởng các chính sách ưu đãi đã được rà soát, trong đó, số đối tượng người có công hưởng đúng, hưởng đủ chính sách là 1.982.769 người, chiếm tỷ lệ 95.75%; số đối tượng hưởng đúng nhưng chưa đầy đủ chính sách là 86.201 người, chiếm tỷ lệ 4.16%; số đối tượng hưởng sai chính sách là 1.872 người, chiếm tỷ lệ 0.09%.

63.768 trường hợp lần đầu tiên kê khai chưa được xác nhận người có công và hưởng chế độ ưu đãi (trong đó: đề nghị được xác nhận liệt sĩ: 2.020 trường hợp; Bà mẹ Việt Nam anh hùng: 1.496 trường hợp; xác nhận thương binh: 7.871 trường hợp; xác nhận bệnh binh: 855 trường hợp; xác nhận người hoạt động kháng chiến bị nhiễm chất độc hóa học: 16.295 trường hợp; kê khai lập hồ sơ để hưởng chế độ trợ cấp một lần đối với cựu thanh niên xung phong theo Quyết định số 40/2012/QĐ-TTg ngày 27/7/2012 của Thủ tướng Chính phủ là 16.466 trường hợp; số còn lại là những trường hợp kê khai đề nghị hưởng các chế độ khác). Qua triển khai tổng rà soát Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội đề nghị Chính phủ chỉ đạo các bộ và địa phương:

Bộ Y tế sớm ban hành văn bản để tháo gỡ nhiều vấn đề vướng mắc, bất hợp lý về bệnh, tật, khám, giám định với người hoạt động kháng chiến bị phơi nhiễm chất độc hoá học. Ban hành văn bản sửa đổi về chức năng, nhiệm vụ và hoạt động của Hội đồng giám định y khoa.

Bộ Xây dựng, Bộ Tài chính, sớm hỗ trợ nguồn kinh phí xây dựng và sửa chữa nhà ở đối với người có công và thân nhân của người có công với cách mạng theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ.

Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội xây dựng và ban hành Kế hoạch giải quyết những trường hợp còn tồn sót đề nghị xác nhận người có công đối với những trường hợp trong quá trình rà soát phát hiện đã tham gia kháng chiến bị thương hoặc hy sinh nhưng nay không còn giấy tờ gốc với quy trình thủ tục theo diện người biết sự việc xác nhận.

Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội ban hành văn bản hướng dẫn trong việc truy thu đối với đối tượng hưởng sai chế độ, chính sách ưu đãi đối với người có công với cách mạng.

Các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương tập trung chỉ đạo, xử lý những vấn đề tồn tại sau tổng rà soát: hưởng sai, hưởng chưa đủ và những trường hợp chưa được hưởng chính sách ưu đãi theo hướng dẫn của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội

2. Chương trình phối hợp giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội trong các loại hình doanh nghiệp[2]

Theo kế hoạch giám sát việc thực hiện pháp luật về bảo hiểm xã hội (BHXH) trong các loại hình doanh nghiệp năm 2015, việc triển khai hoạt động giám sát sẽ được tiến hành tại các tỉnh: Nam Định, Hà Nam, Khánh Hòa, Phú Yên, Đồng Tháp và An Giang.

Tính đến ngày 15/10/2015, chương trình giám sát việc thực hiện pháp luật về BHXH trong các loại hình doanh nghiệp năm 2015 đã hoàn thành việc triển khai giám sát tại Nam Định và Hà Nam. Qua giám sát tại hai tỉnh cho thấy, việc thực hiện pháp luật về BHXH hiện nay còn một số tồn tại sau: tỷ lệ nợ đọng BHXH lớn, việc thu hồi nợ BHXH chưa cao; số doanh nghiệp chậm đóng BHXH, BHYT, BHTN trên 3 tháng còn nhiều, tỷ lệ tham gia BHXH bắt buộc và BHXH tự nguyện của người lao động rất thấp; nhiều doanh nghiệp chưa thực hiện đúng quy định của pháp luật lao động về hợp đồng lao động, thang lương, bảng lương, quy chế lao động, nội quy lao động và đăng ký tham gia BHXH cho người lao động; việc giải quyết các chế độ BHXH về chế độ ốm đau, thai sản cho người lao động còn chậm, thường chờ cơ quan BHXH quyết toán mới chi trả cho người lao động; nhận thức của người lao động về tham gia BHXH, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp còn chưa rõ ràng.

Qua giám sát, các đơn vị và địa phương kiến nghị: Chính phủ có văn bản hướng dẫn giải quyết dứt điểm đối với các doanh nghiệp có chủ bỏ trốn, ngừng hoạt động; các cơ quan chức năng nghiên cứu sửa đổi Điều 102 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 về thời hạn làm thủ tục hưởng chế độ ốm đau, thai sản; BHXH Việt Nam sớm có văn bản chỉ đạo thực hiện Luật BHXH năm 2014; Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tăng cường công tác đào tạo, tập huấn nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ công đoàn, nhất là cán bộ chuyên trách làm công tác tuyên truyền và chính sách - pháp luật.

3. Chương trình phối hợp giám sát việc thực hiện pháp luật về sản xuất, kinh doanh vật tư nông nghiệp (VTNN) giai đoạn 2014 - 2020[3]

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã phối hợp với các cơ quan hữu quan xây dựng kế hoạch triển khai 07 đoàn giám sát tại các tỉnh, thành phố. Tính đến ngày 16/10/2015, đã triển khai được 5/7 đoàn giám sát tại thành phố Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, các tỉnh Nghệ An, Bạc Liêu, Hòa Bình, Gia Lai. Qua giám sát, các đoàn có một số kiến nghị sau:

- Để thuận lợi cho công tác quản lý chất lượng phân bón ở địa phương, đề nghị Chính phủ sửa đổi Nghị định số 202/2013/NĐ-CP ngày 27/11/2013 về quản lý phân bón, giao cho một bộ chịu trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước cả phân bón vô cơ và phân bón hữu cơ (hiện nay phân bón vô cơ do Bộ Công thương quản lý, phân bón hữu cơ do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý). 

- Đề nghị Ủy ban nhân dân các cấp ở địa phương chỉ đạo các cơ quan quản lý chuyên ngành về VTNN thực hiện đầy đủ, nghiêm túc các quy định của pháp luật; khắc phục những hạn chế, yếu kém; tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách pháp luật của Nhà nước về lĩnh vực VTNN đến các cơ sở sản xuất, kinh doanh và người sử dụng VTNN, trọng tâm là thuốc bảo vệ thực vật. Tăng cường các hoạt động thanh tra, kiểm tra các cơ sở sản xuất, kinh doanh, sử dụng VTNN; kịp thời phát hiện và xử lý vi phạm (nếu có); thông báo kết quả kiểm tra, các đối tượng vi phạm pháp luật trên phương tiện thông tin đại chúng. Quản lý chặt chẽ và đúng quy định pháp luật trong việc cấp phép giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh cho các cơ sở, hộ buôn bán VTNN. Phối hợp với các công ty sản xuất VTNN, Hội Nông dân các cấp ở địa phương tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật; tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho các chủ hộ buôn bán VTNN; chuyển giao quy trình kỹ thuật cho nông dân về sử dụng VTNN an toàn, hiệu quả; phương pháp nhận biết VTNN giả, kém chất lượng...

4. Chương trình phối hợp giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ sở y tế tư nhân[4]

Đến hết ngày 12/10/2015 Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã chủ trì phối hợp với Bộ Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Tổng hội Y học Việt Nam, Hội Dược học Việt Nam tiến hành giám tại 11 cơ sở y tế tư nhân, gồm có: 04 bệnh viện (trong đó 02 bệnh viện có đầu tư nước ngoài, 01 bệnh viện thẩm mỹ, 01 bệnh viện đa khoa); 03 phòng khám phòng đa khoa; 02 phong chẩn trị y học cổ truyền; 02 nhà thuốc. Qua giám sát, 11/11 cơ sở y tế được giám sát cơ bản chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về hành nghề y tế tư nhân, chưa pháp hiện vi phạm nghiêm trọng về pháp luật hành nghề y tế tư nhân. Một số vi phạm nhỏ như: tại một số cơ sở chưa hoàn chỉnh lý lịch tư pháp của nhân viên y tế theo quy định luật khám chữa bệnh. Qua giám sát, các đoàn giám sát có một số kiến nghị sau:

- Nhà nước nên thể chế hóa bằng văn bản pháp luật quy định chăm sóc y tế từ xa (Telemedicine) để giảm bớt quá tải cho các cơ sở y tế trong việc tư vấn, khám bệnh, giảm bớt thời gian chờ đợi, đi lại và chi phí cho người bệnh. Hiện nay, các cơ sở y tế tư nhân muốn triển khai hình thức tư vấn - khám bệnh này nhưng chưa có cơ sở pháp lý để thực hiện.

- Nhà nước nên giao các cơ sở y tế tư nhân tự chịu trách nhiệm quảng cáo, giới thiệu về các cơ sở của mình, khi cần quảng cáo giới thiệu không cần xin phép, nhưng tăng mức xử phạt nếu vi phạm. Hiện nay, khi cơ sở y tế cần giới thiệu thông tin quảng cáo phải xin phép, phát sinh nhiều giấy phép con.

5. Chương trình phối hợp giám sát và nâng cao hiệu quả việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở[5]

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã chủ trì xây dựng kế hoạch số 94/KH-MTTW-BTT ngày 04/6/2015 về giám sát liên ngành việc giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở năm 2015; trong đó, thành lập các đoàn giám sát liên ngành giải quyết khiếu nại, tố cáo ở cơ sở gồm:

5.1. Giám sát việc giải quyết khiếu nại về việc thi hành án của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Tây Ninh đối với các công dân Trần Thị Dung, Trần Thị Lan, Trần Thị Lợi trú tại huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh 

Đoàn giám sát triển khai từ ngày 20/7/2015 đến ngày 23/7/2015, kết thúc giám sát đoàn giám sát đã có báo cáo và những kiến nghị cụ thể gửi Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để xem xét kiến nghị đối với các địa phương và các ngành liên quan với các nội dung chủ yếu như sau:

- Bản án qua hai cấp xét xử thấu lý, đạt tình, đã có hiệu lực pháp luật hơn 15 năm nhưng không được các cơ quan hữu quan của tỉnh Tây Ninh tổ chức thi hành, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi hợp pháp của công dân. Nguyên nhân của sự chậm chễ chủ yếu là do sự phối hợp không tốt giữa cơ quan và chính quyền các cấp liên quan của tỉnh. Bên cạnh đó, nhận thức của một số cán bộ chính quyền, đoàn thể ở cơ sở về bản án không đầy đủ nên thiếu sự ủng hộ cơ quan chức năng trong việc thi hành án.

- Kiến nghị Ủy ban nhân dân tỉnh Tây Ninh chỉ đạo các cơ quan hữu quan phối hợp với Cục thi hành án tỉnh Tây Ninh khẩn trương thi hành bản án để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

5.2. Giám sát việc giải quyết khiếu nại, tố cáo trong công tác quản lý và phát triển chợ tại Quảng Ninh, Lào Cai, Thái Nguyên, Hà Nội và Thanh Hóa.

Việc giám sát này được Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam chủ trì và phối hợp với các cơ quan giám sát từ ngày 18/8/2015 -13/10/2015 tại 05 tỉnh, thành phố gồm: Quảng Ninh, Lào Cai, Thái Nguyên, Hà Nội và Thanh Hóa. Qua giám sát, Đoàn báo cáo kiến nghị Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam để xem xét kiến nghị đối với các địa phương và các cơ quan nhà nước hữu quan quan với các nội dung chủ yếu như sau:

- Việc chuyển đổi mô hình chợ thời gian qua ở nhiều địa phương phát sinh khiếu nại, tố cáo, một số nơi khá gay gắt, có nguy cơ trở thành điểm nóng. Nguyên nhân chủ yếu là do quá trình quy hoạch, lập dự án, xây dựng kế hoạch sửa chữa, xây mới chợ của các địa phương chưa tuân thủ đúng quy định pháp luật, thiếu dân chủ trong việc lấy ý kiến của các hộ kinh doanh là những người bị ảnh hưởng trực tiếp của việc chuyển đổi.

- Công tác tuyên truyền, vận động nhân dân hiểu để chấp hành chủ trương của chính quyền ở một số nơi làm chưa tốt, chưa có sự vào cuộc thực sự của Ủy ban MTTQ Việt Nam và các tổ chức thành viên. Một số nơi khi có khiếu nại, tố cáo xảy ra đã không tập trung giải quyết kịp thời nên dẫn đến khiếu kiện đông người, kéo dài, ảnh hưởng đến trật tự xã hội ở địa phương. Một số địa phương khi xử lý đã không quan tâm đầy đủ đến quyền lợi của nhà đầu tư và các hộ kinh doanh nên mâu thuẫn càng thêm trầm trọng.

- Quy định pháp luật về đầu tư phát triển chợ tại các Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ và Nghị định số 114/2009/NĐ-CP ngày 23/12/2009 của Chính phủ về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 02/2003/NĐ-CP ngày 14/01/2003 của Chính phủ về phát triển và quản lý chợ có một số điểm bất cập với thực tiễn nhất là trong việc huy động nguồn vốn xã hội hóa để đầu tư xây dựng chợ. Hầu hết các chợ loại 2, loại 3 ở khu vực miền núi, nông thôn không thể huy động được doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư vì không có lãi. Vì vậy, đề nghị Chính phủ cần nghiên cứu sửa đổi theo hướng có sự hỗ trợ từ ngân sách trong việc đầu tư phát triển chợ ở những khu vực này.

5.3. Giám sát việc thực hiện pháp luật của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Hàm Yên và tỉnh Tuyên Quang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử 05 bị cáo Bàn Văn Thái, Bàn Văn Tiếp, Đặng Văn Quang, Đặng Việt Sơn, và Đặng Văn Tuyên trong vụ án hình sự xảy ra tại thôn 6, xã Bằng Cốc, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang.

Từ ngày 12/8/2015 đến ngày 14/8/2015, Đoàn giám sát liên ngành đã tiến hành giám sát vụ việc trên tại tỉnh Tuyên Quang. Qua giám sát, Đoàn đã phát hiện một số thiếu sót, sai phạm của các cơ quan tiến hành tố tụng huyện Hàm Yên và tỉnh Tuyên Quang trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử 05 bị cáo, từ đó Đoàn kiến nghị Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam có ý kiến để đề nghị các cơ quan Bộ Công an, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao chỉ đạo Công an tỉnh Tuyên Quang và Công an huyện Hàm Yên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tuyên Quang và Viện kiểm sát nhân dân huyện Hàm Yên, Tòa án nhân dân tỉnh Tuyên Quang rút kinh nghiệm, kiểm điểm những thiếu sót, vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng; đồng thời đề nghị Bộ Tư pháp, Hội luật gia Việt Nam, Liên Đoàn luật sư Việt Nam có ý kiến chỉ đạo Sở Tư pháp tỉnh Tuyên Quang, Hội luật gia tỉnh Tuyên Quang, Đoàn luật sư tỉnh Tuyên Quang quán triệt, chỉ đạo các thành viên chủ động, tích cực tham gia vào hoạt động bào chữa trong trường hợp bắt buộc phải có người bào chữa theo quy định pháp luật.

6. Chương trình phối hợp giám sát việc thực hiện Luật khoa học và công nghệ và Nghị quyết Trung ương 6 khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ[6]

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam đã chủ trì, phối hợp với các cơ quan tiến hành triển khai các hoạt động giám sát tại thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Bắc Ninh. Qua giám sát có một số kiến nghị sau:

- Về chính sách: Cụ thể hóa, hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật theo tinh thần của Luật khoa học và công nghệ mới, tạo điều kiện, hành lang pháp l‎ý cho hoạt động khoa học và công nghệ của cả nước nói chung, khoa học công nghệ của địa phương nói riêng; đặc biệt là tháo gỡ các khó khăn về tổ chức, về cơ chế sử dụng và thanh quyết toán tài chính cho hoạt động khoa học và công nghệ

- Cần có cơ chế chia sẻ thông tin giữa các Bộ, ngành trung ương đến địa phương, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan địa phương trong việc quản l‎ý, định hướng phát triển theo từng ngành nghề, lĩnh vực.

- Tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng để nâng cao năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, khả năng tiếp thu, ứng dụng, làm chủ và chuyển giao các tiến bộ khoa học và công nghệ tiên tiến trong và ngoài nước đối với đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ của các địa phương, góp phần đưa nhanh các thành tựu khoa học và công nghệ phục vụ phát triển các lĩnh vực kinh tế xã hội.

7. Chương trình phối hợp về giám sát việc thực hiện những nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong lĩnh vực thuế và hải quan[7]

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tiến hành thu phiếu điều tra xã hội học và phân tích kết quả đối với 200 Hiệp hội doanh nghiệp trên toàn quốc.

Đến nay, đã tổ chức giám sát tại thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Quảng Nam và tỉnh An Giang. Trong đó, đã phối hợp với VCCI, ADB tổ chức buổi Tọa đàm trao đổi với các Hiệp hội doanh nghiệp, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam và Ủy ban MTTQ Việt Nam thành phố Đà Nẵng về lĩnh vực thuế và hải quan tại Đà Nẵng; làm việc với Cục Thuế và Cục Hải quan thành phố Đà Nẵng về việc thực hiện cải cách thủ tục hành chính theo Nghị quyết 19/NQ-CP, giám sát tại một số doanh nghiệp tại thành phố Đà Nẵng và Quảng Nam để nắm bắt những vướng mắc, khó khăn của doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến thuế và hải quan.

Dự kiến sẽ tổ chức giám sát tại thành phố Hà Nội và tỉnh Lào Cai vào cuối tháng 10/2015. Kết quả cụ thể sẽ được tổng hợp báo cáo sau.

8. Chương trình phối hợp triển khai xác định chỉ số hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2015[8]

Đến ngày 15/10/2015, 10/10 tỉnh, thành phố (Hà Nội, Hưng Yên, Lai Châu, Tuyên Quang, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Đắk Lắk, Hồ Chí Minh, Tây Ninh và Cà Mau) được lựa chọn đã tổ chức xong điều tra xã hội học đợt 1 và đợt 2. Hiện nay, các tỉnh, thành phố đang gửi phiếu điều tra xã hội học để tổng hợp. Dự kiến đến cuối tháng 11 sẽ công bố kết quả. Nhìn chung, việc tổ chức điều tra xã hội học đã được tiến hành đồng loạt, bài bản và đầy đủ quy trình như hướng dẫn đã đặt ra tại tất cả các địa phương được lựa chọn.

Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Trung ương Hội Cựu chiến binh Việt Nam đã cử cán bộ trực tiếp đi giám sát đến tận các xã, phường, thị trấn được lựa chọn điều tra xã hội học của các tỉnh, thành phố: Cà Mau, Tây Ninh, Đắk Lắk, Quảng Ninh, Hà Nội. Dự kiến Chương trình sẽ kết thúc vào tháng 11/2015. Kết quả cụ thể sẽ được tổng hợp báo cáo sau./.

 

 


[1] Chương trình phối hợp số 4836/CTr-BLĐTBXH-MTTW ngày 05/12/2013 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội.

[2] Chương trình phối hợp số 937/CTPH-TLĐ-MTTW-BLĐTBXH-BHXH-TTCP ngày 07/7/2014 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Bảo hiểm xã hội Việt Nam và Thanh tra Chính phủ.

[3] Chương trình phối hợp số 17-CTPH/HND-MTTQ-BNN&PTNT-BCT ngày 17/7/2014 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Hội Nông dân Việt Nam, Bộ NN&PTNT và Bộ Công thương.

[4] Chương trình phối hợp số 42/CTPH-MTTW-BYT-LHHVN-THYH-HDH ngày 10/9/2014 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bộ Y tế, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam, Tổng hội Y học Việt Nam và Hội Dược học Việt Nam.

[5] Chương trình phối hợp số 01/CTPH-MTTQ-TTCP-BTP-HLG-LĐLS ngày 11/11/2014 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Thanh tra Chính phủ, Bộ Tư pháp, Hội Luật gia Việt Nam và Liên đoàn luật sư Việt Nam.

[6] Chương trình phối hợp số 06/CTPH-MTTW-KHCN-LHHKHKTVN ngày 11/3/2015 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bộ Khoa học và Công nghệ, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam.

[7] Chương trình phối hợp số 07/CTPH-MTTW-BTC-VCCI-LMHTXVN-DNNVV-DNTVN ngày 07/4/2015 giữa Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam, Bộ Tài chính, Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, Liên minh Hợp tác xã Việt Nam, Hiệp Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam, Hội doanh nhân Trẻ Việt Nam.

[8] Chương trình phối hợp số 11/ CTPH- BNV- HCCB-MTTQVN ngày 06/7/2015 giữa Bộ Nội vụ, Ban Thường trực Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam và Hội Cựu chiến binh Việt Nam.

Theo daidoanket.vn


NGO-IC

NGO-IC là tổ chức Phi Chính phủ, phi lợi nhuận, phi chính trị có sứ mệnh kết nối các tổ chức xã hội (CSO) với các cơ quan Chính phủ ở Trung ương và địa phương;

lacoste boty