Tin tức

Vận động và phát triển chính sách liên quan đến sức khỏe cộng đồng

Đăng bởi: ngoicvn
08/04/2016

Sáng nay, ngày 7/4/2016, tại Hà Nội, Liên minh Vận động Phát triển Y tế dựa vào bằng chứng khoa học (EBHPD), liên minh vận động cấm sử dụng amiang trắng (Vn-BAN), liên minh Phòng chống Bệnh không lây nhiễm Việt Nam (NCDs-VN) và Hội Y tế công cộng Việt Nam (VPHA) phối hợp với Ủy ban Liên Chính sách của các Hội Dịch tễ học Thế giới (JPC-SE), Ban Thư ký vận động cấm sử dụng amiang quốc tế (ISBA) và Liên minh Phòng chống thuốc lá khu vực Đông Nam Á (SEATCA) đã khai mạc Hội thảo Đạo đức trong Nghiên cứu, Vận động và Phát triển Chính sách liên quan đến Sức khỏe Cộng đồng.

Theo TS .Colin L.Soskolne – GS danh dự Đại học Alberta, Edmonton, Canada, GS kiêm nhiệm Đại học Canberra Úc cho biết, hiện nay khoảng 90% amiang được sử dụng trong sản xuất vật liệu xi măng có chứa amiang như tấm lợp, ống nước, bình chứa nước, tại các nước đang phát triển. 10% còn lại được sử dụng chủ yếu trong sản xuất miếng đệm phanh, gioăng và sợi công nghiệp.

Tuy nhiên, theo TS .Colin L.Soskolne thì từ góc độ đạo đức, việc xuất khẩu amiang đe dọa quyền con người tại các nước nhập khẩu, cụ thể là hai quyền cơ bản đó là: quyền được sống và quyền có sức khỏe. Quyền của người dân có thể và hiện đang bị vi phạm không chỉ bởi quốc gia, mà còn bởi các cá nhân, các nhóm và các tập đoàn. Trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp và trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tôn trọng quyền con người phải được đề cao tại các tổ chức quốc tế, và điều này là hoàn toàn hợp lý, đặc biệt là tại Liên hiệp quốc. Doanh nghiệp và những người đứng đầu có trách nhiệm trong việc vi phạm nhân quyền.

Và theo TS .Colin L.Soskolne thì những nhà sản xuất amiang, các công ty sản xuất sản phẩm có chứa amiang, các nhà khoa học, nhà vận động, các nhóm lợi ích tài chính đều không chấp nhận các bằng chứng khoa học. Họ đang vận hàng một cỗ máy phủ nhận hàng loạt, làm tổn hại đến xã hội.

Khi nói về vấn đề amiang tại Việt Nam, các nhà khoa học cho rằng việc cấm sử dụng amiang tại Việt Nam được chính thức bắt đầu từ năm 2001, so với thời điểm đó, chính sách này của Việt nam là tương đối tiến bộ. Tuy nhiên, chính sách nayg đã bị vô hiệu hóa cũng bởi chính một Quyết định khác và từ đó đến nay đã gần 15 năm, việc cấm amiang đã hầu như bị quên lãng cho đến gần đây mới được xới lên do các hoạt động của các NGO, WHO, ILO…

Qua các hoạt động này đã thấy nổi lên vấn đề thông tin bị làm sai lệch một cách cố tình đã có tác động đáng kể đến quá trình hình thành chính sách của Việt Nam. Các thông tin này dựa trên một số nghiên cứu “ngụy khoa học” của nhóm thủ lợi amiang cũng như của một số cá nhân, tổ chức làm công tác nghiên cứu trong và ngoài nước.

Cũng đồng quan điểm với các nhà khoa học, TS Đỗ Quốc Quang – Liên minh vận động cấm sử dụng amiang tại Việt Nam (Vn-BAN) cho rằng việc Chính phủ cấm sử dụng amiang tại Việt Nam là tích cực, nghiên vế việc loại trừ amiang, tuy nhiên vẫn còn tồn tại là thời hạn và chính sách cụ thể của một số Bộ ngành bị nhóm thủ lợi chi phối muốn trì hoãn quá trình này. Muốn giải quyết được, cần kiên trì quá trình đưa ra các dữ liệu, bằng chứng tới tận các nhà hoạch định chính sách ở cấp cao, có sự phối hợp với các tổ chức quốc tế có uy tín như WHO, ILO… và truyền thông, dư luận.

Việc một số nhà khoa học phát biểu quan điểm ủng hộ amiang và phản bác sản phẩm không amiang thực tế là “ngụy khoa học” căn cứ trên các dữ liệu họ đưa ra rất thiên lệch một cách có chủ đích. Do đó, vấn đề “Đạo đức nghiên cứu” là cách tiếp cận hay để giải quyết phần nào vấn nạn này.

Quan trọng nhất và quyết định sản phẩm nào sẽ tồn tại là người tiêu dung, do đó, truyền thông tới cộng đồng cần được coi trọng. Cần chú ý sử dụng khái niệm, thuật ngữ… trong truyền thông cộng đồng cần được xem xét thực hiện một cách phù hợp, dễ hiểu để đạt được hiệu quả cao nhất.

Các hoạt động với mục tiêu dừng sử dụng amiang hiện nay chủ yếu do các NGO và Bộ Y tế cùng một số Bộ ngành thực hiện. Riêng đối với các NGO, các kế hoạch hoạt động cần hoạch định kỹ lưỡng, phù hợp với các chủ trương, chính sách cụ thể của nhà nước về vấn đề này.

Cũng tại hội thảo, ngoài vấn đề amiang, các nhà khoa học cũng đưa ra nhiều ý kiến về ngành công nghiệp thuốc lá, hiện nay trên thế giới có 6 triệu người chết hàng năm (nhiều hơn số người chết bởi viêm gan, HIV/AIDS và sốt rét gộp lại), bao gồm 600,000 người chết do hút thuốc thụ động.

Tại Việt Nam, mỗi năm có 40.000 trường hợp tử vong do hút thuốc, tuy nhiên việc dùng thuốc lá vẫn được coi là bình thường trong xã hội, giá và thuế thuốc lá thấp, chính vì vậy ngành công nghiệp thuốc là vẫn được coi là ngành “có nhiều đóng góp cho xã hội”.

Theo báo cáo tổng hợp dự án “Quy hoạch sản xuất sản phẩm thuốc lá và phát triển vùng nguyên liệu thuốc lá Việt Nam đến năm 2020 cho thấy, Việt Nam vẫn đang nhập khẩu nguyên liệu dạng lá từ Brazil, Zimbabwe, Mỹ, Trung Quốc, Lào và Campuchia (khoảng từ 15.000 – 30.000 tấn/năm).

Cũng theo báo cáo của ITIC được Hiệp hội thuốc lá cho thấy, Việt Nam là một trong những thị trường tiêu thụ thuốc lá nhập khẩu lớn nhất châu Á và có lượng tiêu thụ thuốc lá lậu lớn thứ hai trong số 11 quốc giá châu Á. Riêng năm 2013, tổng số thuốc lá tiêu thụ tại Việt Nam là 104,8 tỷ điếu, gồm 87,8 tỷ điếu hợp pháp và 17 tỷ điếu nhập lậu. Thuốc lá nhập lậu đã lấy đi 20% thị phần và gây thất thu lớn cho ngân sách nhà nước.

Chính vì vậy, theo các nhà khoa học chính phủ nhận thức về các chiến lược của ngành công nghiệp thuốc lá gây ảnh hưởng tới các chính sách Y tế công cộng; Chính phủ cần ngăn chặn và không cho các doanh nghiệp thuốc lá được tài trợ hay hỗ trợ chương trình phòng chống tác hại thuốc lá; Thiết lập các quy tắc ứng xử cho cán bộ, nhân viên, bao gồm các biện pháp để ngăn cản xung đột lợi ích; Chính phủ hay các nhà quản lý ngân sách không được đầu tư vào ngành công nghiệp thuốc lá và ngành công nghiệp thuốc lá phải được theo dõi, giám sát.

Theo Vusta.vn 


NGO-IC

NGO-IC là tổ chức Phi Chính phủ, phi lợi nhuận, phi chính trị có sứ mệnh kết nối các tổ chức xã hội (CSO) với các cơ quan Chính phủ ở Trung ương và địa phương;

lacoste boty